Công nghiệp phụ trợ (CNPT) sẽ góp phần quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất tại Việt Nam nói chung và tỉnh ta nói riêng khi các điều kiện miễn thuế đối với hầu như toàn bộ các sản phẩm nhập từ các nước ASEAN theo thoả thuận AFTA có hiệu lực.
Vận hành dây chuyền sản xuất bia chai tại Công ty CP Bia, Nước giải khát Quảng Ninh. Mặc dù các sản phẩm ngành công nghiệp tỉnh ta đang có xu hướng phát triển mạnh với kim ngạch xuất khẩu lên tới nhiều triệu USD, song nguồn “đầu vào” vẫn phải phụ thuộc rất nhiều từ nhập khẩu, do vậy giá trị gia tăng thêm còn thấp. Điển hình như ngành dệt may của tỉnh có khoảng 70% tổng trị giá hàng xuất khẩu phụ thuộc vào nguyên, phụ liệu nhập khẩu. Trong đó, toàn bộ thuốc nhuộm đang sử dụng đều phải nhập khẩu, tỉ lệ hóa chất cơ bản nội địa hoá cung cấp cho ngành dệt chỉ chiếm trên dưới 15% nhưng hầu hết lại là sản phẩm có giá trị thấp. Ngành cơ khí sửa chữa, chế tạo máy mỏ và phương tiện vận tải thuỷ bộ của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, mặc dù đạt doanh thu từ 1.200 - 1.500 tỷ đồng nhưng tỷ lệ nội địa hoá mới dừng lại ở mức 20% và cũng chỉ cung cấp sản phẩm phụ trợ ở một số sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như: khung, gầm, bộ dây điện trong xe, ghế ngồi, một số chi tiết kim loại, nhựa, cao su… Còn lại 80% linh kiện và các thiết bị lắp ráp vẫn cơ bản do khách hàng nước ngoài cung cấp. Hay như ngành công nghiệp đóng tàu, từ năm 2005 đã đóng tàu 5,3 vạn tấn nhưng chủ yếu vẫn là lắp ráp. Hợp đồng đóng tàu mới dừng lại ở trình độ làm gia công theo thiết kế các loại, mẫu mã; vật tư, nguyên liệu, động cơ, cũng như giám sát, đăng kiểm... đều của nước ngoài. Như vậy, một trong những lý do quan trọng của việc giá trị gia tăng trong các sản phẩm công nghiệp tỉnh ta không cao và thiếu tính ổn định chính là sự yếu kém của các ngành công nghiệp phụ trợ. Theo Sở Công thương, nguyên nhân của việc phát triển ngành công nghiệp chưa xứng tầm, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ trước hết là do nguồn nhân lực thiếu sự tích lũy về trình độ công nghệ. Nguồn nhân lực giá rẻ sẽ không còn là một lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút của các doanh nghiệp đối với các khu, cụm công nghiệp hay các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp hiện nay khi các thoả thuận về miễn giảm thuế nhập khẩu chính thực được thực hiện. Vấn đề lúc này cần phải quan tâm là làm thế nào để sản xuất được các mặt hàng vừa có chất lượng tốt, vừa có giá thành rẻ. Sản phẩm rẻ nhưng chất lượng kém hay sản phẩm tốt nhưng giá thành cao đều sẽ bị thị trường đào thải. Vì thế, điều cốt yếu hiện nay là cần phải đào tạo được nguồn nhân lực có khả năng quản lý, sản xuất ra những sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Vấn đề lớn nhất về nguồn nhân lực ở tỉnh ta là thiếu khả năng ứng dụng và tính sáng tạo. Ông Trần Đăng Niên, Giám đốc Sở Công thương cho biết: “Nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp phụ trợ chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng chủ yếu là do suất đầu tư thấp, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo chưa hình thành liên kết bền vững hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Ngược lại chất lượng đào tạo chưa được quan tâm đúng mức đã ảnh hưởng đến chất lượng của các nghiên cứu khoa học ứng dụng, chất lượng kỹ sư, công nghệ viên, kỹ thuật viên và công nhân nói chung”. Có thể thấy, khi ngành công nghiệp phụ trợ phát triển tương xứng với tốc độ phát triển chung của các ngành công nghiệp sẽ tạo động lực cho các ngành công nghiệp của tỉnh tăng trưởng mạnh và tính bền vững sẽ cao hơn. Đặc biệt trong điều kiện lộ trình mở cửa hoàn toàn thị trường trong nước đang đến gần, nếu không xây dựng được ngành công nghiệp phụ trợ tương ứng, đủ sức cạnh tranh và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài thì các nhà đầu tư sẽ có nguy cơ chuyển sang đầu tư các loại hình khác hơn là đầu tư vào sản xuất. Sàng tuyển phân loại than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông. Để giải quyết bài toán nêu trên trước hết cần quan tâm tới các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tiến hành đào tạo nguồn nhân lực cả về công nghệ sản xuất và quản lý kinh doanh. Cần phát huy có hiệu quả việc áp dụng chế độ thẩm định viên đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ; cần thiết hỗ trợ và hướng dẫn cho doanh nghiệp để nâng cao khả năng kinh doanh cũng như khả năng về công nghệ. Hơn nữa, cần đào tạo đội ngũ công nhân, kỹ sư có đủ trình độ về kỹ thuật thực hành và thực tiễn. Có các chính sách hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện chế độ thực tập, hướng dẫn tại các cơ sở đào tạo. Ý kiến các nhà quản lý và doanh nghiệp Ông Đoàn Văn Khanh, Giám đốc TT Khuyến công tỉnh (Sở Công Thương): Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp đã có rất nhiều nỗ lực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động. Tuy nhiên, trình độ học vấn của đội ngũ công nhân tại các đơn vị đa phần ở mức thấp (trình độ sơ cấp), trình độ bậc thợ thấp còn khá nhiều. Điều này phản ánh tính không chuyên nghiệp của đội ngũ công nhân và có thể ảnh hưởng đến chất lượng công việc. Tính kỷ luật và tính hợp tác của đội ngũ công nhân lao động trong ngành còn kém; ý thức và tác phong lao động của người lao động không bài bản và chặt chẽ. Đội ngũ cán bộ quản lý hầu như chưa được đào tạo một cách có hệ thống về lĩnh vực quản lý, nên trong quản lý doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Xi măng Hạ Long: Các dây chuyền sản xuất theo công nghệ mới sẽ giảm đáng kể số lượng lao động. Chẳng hạn một dây chuyền sản xuất xi măng lò đứng cần khoảng 250 - 300 lao động khi chuyển sang lò quay chỉ cần 150 - 200 lao động, sẽ không cần những lao động phổ thông, bán cơ khí mà là đội ngũ công nhân vận hành thiết bị, công nhân công nghệ lành nghề. Thực tế đó dẫn đến tình trạng ngành công nghiệp thừa lao động phổ thông, thiếu lao động có chất lượng đáp ứng yêu cầu. Trong cạnh tranh lao động hiện nay, lượng cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao và tuổi trẻ thường tập trung ở những doanh nghiệp lớn, các công ty nước ngoài, nơi có thu nhập cao và có môi trường làm việc hiện đại; các doanh nghiệp nhỏ, thu nhập thấp thường rất thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề. Trong những năm tới, tình hình này cũng rất khó được cải thiện vì nguồn nhân lực được đào tạo trong các trường của nước ta còn hạn chế mà nhu cầu lại rất cao. Ông Kim Hoà An, Giám đốc Công ty TNHH Chế tạo Kim loại Việt Nam (Khu công nghiệp Hải Yên): Cũng giống như các công ty khác, chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng và giữ chân những nhà quản lý, nhân viên có kinh nghiệm trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt đang diễn ra hiện nay. Mặc dù ở Việt Nam, số trường kỹ thuật tăng lên, song số lao động lành nghề đáp ứng được nhu cầu công việc lại không tỉ lệ thuận theo xu thế đó. Trong khi các doanh nghiệp như chúng tôi rất cần một lượng không nhỏ nguồn nhân lực có tay nghề và trình độ chuyên môn cao, do vậy nếu không được quan tâm nhiều tới những loại hình trường lớp đạo tạo thêm đó, chắc chắn chúng tôi sẽ thiếu nhân lực thực sự. PV (Thực hiện)