Những địa chỉ đỏ kể chuyện ngành Than

Ngành Than có lịch sử gần 2 thế kỷ. Lịch sử ấy không chỉ nằm trong những trang tư liệu. Nó hiện diện ở những địa điểm đã trở thành "chứng nhân" của các chặng đường phát triển ngành Than, trong từng hiện vật, hình ảnh, tư liệu được lưu giữ hôm nay.

Đài Hoàng Đế lệnh chỉ (thuộc Khu di tích Địa điểm khai thác than đầu tiên của Việt Nam), nơi khắc bức chỉ dụ ngày 10/1/1840 của vua Minh Mạng.

Đài Hoàng Đế lệnh chỉ (thuộc Khu di tích Địa điểm khai thác than đầu tiên của Việt Nam), nơi khắc bức chỉ dụ ngày 10/1/1840 của vua Minh Mạng.

Ngày 10/1/1840 (tức ngày 6 tháng 12 năm Kỷ Hợi), dưới triều vua Minh Mạng, triều đình nhà Nguyễn chấp thuận lời tâu của Tổng đốc Hải Yên Tôn Thất Bật, cho phép khai thác than tại vùng núi Yên Lãng, Đông Triều. Quyết định này được xem là dấu mốc chính thức "khai sinh" ngành Than Việt Nam. Từ những vỉa than đầu tiên lộ thiên trên núi Yên Lãng, một ngành công nghiệp đã từng bước hình thành, phát triển và gắn bó với quá trình xây dựng, bảo vệ đất nước suốt gần hai thế kỷ qua.

Từ một địa điểm khai thác than sơ khai, Yên Lãng dần trở thành một không gian lưu giữ ký ức của nhiều thế hệ người làm mỏ. Để bảo tồn và phát huy giá trị của địa chỉ đặc biệt này, khu di tích Địa điểm khai thác than đầu tiên của Việt Nam đã được đầu tư tôn tạo với nhiều hạng mục như Đền Thượng thờ vua Minh Mạng và Tổng đốc Hải Yên Tôn Thất Bật cùng các vị tổ nghề ngành Than, Đền Hạ, Nhà bia tưởng niệm những người thợ mỏ hy sinh vì sự nghiệp sản xuất than, Đài Hoàng đế lệnh chỉ..., hình thành một không gian vừa lưu giữ dấu tích lịch sử, vừa phục vụ tham quan và giáo dục truyền thống.

bqn_tr_mieu-mo.jpg
Khu vực đền thờ vua Minh Mạng và Tổng đốc Hải Yên Tôn Thất Bật cùng các vị tổ nghề ngành Than.

Hiện nay, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang thực hiện giai đoạn II dự án bảo quản, tu bổ di tích và dự kiến công trình sẽ được hoàn thành vào dịp kỷ niệm 90 năm Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than 12/11/2026.

Nếu Yên Lãng lưu dấu buổi đầu khai thác than ở Việt Nam, thì Khu lưu niệm Vùng than Cẩm Phả lại kể câu chuyện về một Vùng mỏ đã hình thành, phát triển và ghi dấu đậm nét phong trào công nhân. Nằm trên diện tích khoảng 4.800m² tại phường Cẩm Phả, khu di tích gồm nhà Thị ủy cũ, nhà Bệnh viện Cẩm Phả cũ, hai hầm trú ẩn, sân tập trung, lầu vọng cảnh cùng hệ thống sân vườn, cây cổ thụ. Đây vốn là khu tòa đại lý hành chính do người Pháp xây dựng, gắn với viên quan đại lý Vavasseur - người giữ chức vụ cao nhất của chính quyền Pháp tại Cẩm Phả thời kỳ đó.

Những công trình từng gắn với bộ máy cai trị thuộc địa nay trở thành nơi lưu giữ câu chuyện về quá trình hình thành vùng than Cẩm Phả. Sau khi Vùng mỏ được tiếp quản năm 1955, khu nhà này trở thành Văn phòng Thị ủy Cẩm Phả. Trải qua thời gian, các công trình được bảo tồn, phục chế nguyên mẫu, trong đó không gian nhà Bệnh viện cũ được sử dụng để trưng bày tư liệu, tranh ảnh, hiện vật về lịch sử khai thác than và những chặng đường phát triển của Vùng mỏ Cẩm Phả. Nơi đây đã trở thành địa điểm để các thế hệ học sinh, học viên ngành Than tìm hiểu về lịch sử Vùng mỏ, về những cuộc đấu tranh của công nhân và truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”. Cùng với Quảng trường 12/11, ngã tư đường lên mỏ Đèo Nai và nhiều di tích khác, khu lưu niệm đang được kết nối thành không gian văn hóa, lịch sử đặc trưng của vùng than.

bqn_tr_cty-mao-khe.jpg
Nhà truyền thống công ty Than Mạo Khê - nơi lưu giữ nhiều hình ảnh, hiện vật qua các giai đoạn phát triển của đơn vị.

Bên cạnh đó, phòng truyền thống tại các công ty than có thể coi như những “bảo tàng thu nhỏ” của ngành Than với hàng trăm hiện vật, hình ảnh được lưu giữ. Một công cụ lao động, một bức ảnh cũ, một trang tư liệu hay mô hình dây chuyền sản xuất đều có thể trở thành điểm bắt đầu cho câu chuyện về ngành Than, về người thợ mỏ. Từ những ngày lao động trong điều kiện khắc nghiệt dưới chế độ thuộc địa, những cuộc đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm việc, đến quá trình làm chủ máy móc, công nghệ và xây dựng những nhà máy hiện đại.

bqn_tr_hien-vat.jpg
Mỗi hiện vật góp thêm một lát cắt, một câu chuyện về nghề mỏ và người công nhân mỏ.

Mỗi di tích ngoài thực địa và phòng truyền thống tại các đơn vị là một lát cắt về lịch sử ngành Than. Khi được kết nối đồng bộ cùng Bảo tàng Quảng Ninh, các moong mỏ, khai trường, nhà sàng, bến cảng và tuyến đường sắt chuyên dụng, hệ thống này sẽ tạo thành một "bảo tàng mở" độc đáo. Các chuyên gia đánh giá đây là tiềm năng lớn để Quảng Ninh phát triển dòng sản phẩm du lịch di sản công nghiệp riêng có. Tuy nhiên, việc đưa du khách trải nghiệm thực tế tại các khu vực sản xuất đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Than và ngành du lịch, trong đó công tác đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ môi trường phải được đặt lên hàng đầu.

Thông qua việc kết nối chuỗi "địa chỉ đỏ", câu chuyện về lịch sử, con người và bản sắc Vùng mỏ tiếp tục được lan tỏa, trở thành nguồn lực bền vững cho sự phát triển hôm nay và mai sau.

Xuân Hòa

Cùng chuyên mục