Công nghiệp khoáng sản: Lĩnh vực mũi nhọn chiến lược của TKV

Trong chiến lược phát triển mới, ngành Than tiếp tục giữ vai trò mũi nhọn, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, vai trò của ngành trong giai đoạn mới không chỉ được đo bằng sản lượng. Trên vùng than Quảng Ninh, quá trình chuyển đổi đang diễn ra theo hướng khai thác ngày càng xuống sâu, giảm dần khai thác lộ thiên, tăng tỷ trọng khai thác hầm lò; đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa và ứng dụng dữ liệu trong điều hành sản xuất; từng bước tận dụng nước thải sau xử lý, đất đá thải mỏ để phát triển kinh tế tuần hoàn.

Gần một thế kỷ gắn bó với vùng mỏ, ngành than không chỉ là một lĩnh vực sản xuất của Quảng Ninh. Ngành Than đã góp phần hình thành các đô thị, tạo việc làm, đóng góp nguồn thu ngân sách và hun đúc nên truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” - một giá trị đặc trưng của vùng mỏ.

bqn_tr_chi-thanh-tham-dong-vien-than-duong-huy.jpg
Đồng chí Trịnh Thị Minh Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố, tham quan công trình cơ giới hóa đồng bộ hạng nhẹ lò chợ 12-1C/Vỉa 12-Khu Đông Bắc, Công ty Than Dương Huy (tháng 5/2023).

Vai trò ấy vẫn rất lớn trong bức tranh kinh tế hiện nay. Riêng năm 2026, TKV dự kiến sản xuất tại Quảng Ninh 36,97 triệu tấn than sạch, bằng 105,6% kế hoạch năm. Sản lượng than tiêu thụ toàn Tập đoàn phấn đấu đạt 50,72 triệu tấn. Đáng chú ý, các đơn vị TKV trên địa bàn Quảng Ninh hiện sử dụng trên 73.100 lao động; nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2026 dự kiến đạt 16.400 tỷ đồng.

Những con số đó cho thấy than vẫn là một ngành kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhưng bài toán phía trước khó hơn nhiều so với trước. Điều kiện khai thác ngày càng phức tạp, các diện khai thác ngày càng mở rộng và xuống sâu hơn, chi phí tăng, trong khi yêu cầu về an toàn lao động, bảo vệ môi trường và giảm phát thải ngày càng cao. Bởi vậy, duy trì vai trò chiến lược của than không đồng nghĩa với tiếp tục khai thác theo phương thức cũ.

Định hướng của TKV giai đoạn 2026-2030 là đầu tư bổ sung 15 dự án mỏ than để duy trì sản lượng than sạch sản xuất trong nước khoảng 40 triệu tấn/năm, kết hợp nhập khẩu khoảng 10-20 triệu tấn/năm; đồng thời đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa khai thác, đầu tư hạ tầng và logistics phục vụ sản xuất, nhập khẩu, chế biến, pha trộn than, nhất là nguồn than cho các nhà máy nhiệt điện. Giai đoạn này, TKV dự kiến triển khai đầu tư xây dựng 18 dự án khai thác than, cùng 4 dự án sàng tuyển, 6 dự án hạ tầng cảng, kho và 6 dự án băng tải.

bqn_tr_cong-ty-tuyen-than-cua-ong.jpg
Hoạt động sàng tuyển tại Công ty Tuyển than Cửa Ông.

Điều đáng chú ý là hướng phát triển không còn đặt trọng tâm đơn thuần là tăng sản lượng than, mà chuyển sang khai thác tài nguyên hiệu quả hơn bằng công nghệ. Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng phương án phát triển và tái cơ cấu giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Tập đoàn xác định hướng tới mô hình tập đoàn công nghiệp - năng lượng - vật liệu hiện đại, giữ vai trò nòng cốt, tiên phong trong công nghiệp khai khoáng và an ninh năng lượng; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị hiện đại trở thành động lực phát triển. Đây chính là sự thay đổi có tính chiến lược đối với vùng than Quảng Ninh.

Ông Hồ Quang Huy, Giám đốc Sở Công Thương, cho rằng: Than tiếp tục là ngành công nghiệp quan trọng của thành phố, nhưng yêu cầu phát triển hiện nay đã khác trước. Quảng Ninh mong muốn cùng TKV chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên theo chiều rộng sang nâng cao năng suất, giá trị gia tăng bằng việc ứng dụng khoa học và công nghệ; phát triển khai thác hầm lò hiện đại, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và bảo đảm hài hòa giữa hoạt động sản xuất than và không gian phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ của thành phố.

Xu thế giảm dần khai thác lộ thiên, tăng tỷ trọng khai thác hầm lò đặt ra những yêu cầu công nghệ ngày càng cao đối với ngành Than. Càng xuống sâu, điều kiện địa chất càng phức tạp, áp lực mỏ lớn hơn, cung độ vận chuyển dài hơn và yêu cầu thông gió, thoát nước, an toàn lao động ngày càng cao. Nếu tiếp tục dựa nhiều vào lao động thủ công, hiệu quả sản xuất và khả năng thu hút lao động sẽ trở thành những nút thắt.

Hiện khoảng 67.000 trong hơn 73.000 lao động của TKV tại Quảng Ninh đang làm việc trong lĩnh vực sản xuất than. Các đơn vị đều gặp khó khăn trong tuyển dụng, đặc biệt là lao động hầm lò do công việc nặng nhọc, môi trường làm việc khắc nghiệt nên khó cạnh tranh với nhiều ngành nghề khác. Điều đó càng thúc đẩy yêu cầu phải đưa công nghệ xuống lòng đất.

bqn_tr_cty-than-ha-long.jpg
Khai thác than trong hầm lò tại Công ty Than Hạ Long.

TKV xác định giai đoạn 2026-2030 tiếp tục đầu tư nghiên cứu, triển khai các chương trình cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số ở các công đoạn sản xuất, đặc biệt trong khai thác than hầm lò; nghiên cứu, tiếp nhận và làm chủ công nghệ khai thác mỏ sâu, mỏ khó. Một hướng đi đáng chú ý là nghiên cứu công nghệ khai thác chèn lò để thử nghiệm, áp dụng tại Dự án khai thác hầm lò mỏ than Núi Béo.

Ông Đoàn Đắc Thọ, Giám đốc Công ty CP Than Núi Béo, cho biết: Khai thác hầm lò ngày càng xuống sâu đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ nhanh hơn. Mục tiêu của chúng tôi là những khâu nào máy móc có thể thay con người thì phải từng bước cơ giới hóa, tự động hóa; những vị trí có nguy cơ cao phải tăng giám sát bằng công nghệ. Đầu tư công nghệ không chỉ để tăng sản lượng mà trước hết phải tạo môi trường làm việc an toàn hơn cho thợ mỏ.

Từ những khai trường lộ thiên đến các đường lò ngày càng xuống sâu, công nghiệp than Quảng Ninh đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ. Than vẫn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn cung năng lượng cho nền kinh tế, nhưng hoạt động khai thác phải chuyển theo hướng hiện đại hơn, giảm lao động thủ công, nâng cao mức độ an toàn, tiết kiệm tài nguyên và tăng khả năng tái sử dụng chất thải. Đây là hướng đi cần thiết để ngành Than tiếp tục đóng góp vào an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển xanh và bền vững của Quảng Ninh.

Mạnh Trường

Cùng chuyên mục