Công nghiệp Quảng Ninh sau 2 năm hội nhập kinh tế quốc tế

Hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chưa đủ dài để đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của hội nhập đối với nền kinh tế. Tác động của hội nhập trong nhiều nội dung còn mang định tính. Để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững theo Nghị quyết 08 của Trung ương, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành và các địa phương xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.

UBND tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch số 1033/KH-UBND về Hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Quảng Ninh, nội dung của Kế hoạch được triển khai cụ thể tới từng sở, ngành, địa phương. Ban Hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh cũng đã tích cực chỉ đạo các ngành, địa phương xây dựng chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp giai đoạn hậu gia nhập WTO.

Để tăng tốc và đuổi kịp các nước trong khu vực trong một tương lai gần, gần đây, Quảng Ninh đã đề ra được Chiến lược phát triển công nghiệp tầm nhìn đến năm 2020, xác định các ngành công nghiệp và sản phẩm mũi nhọn có sức đột phá lớn về công nghệ, qui mô và khả năng cạnh tranh cao trên thương trường. Theo định hướng trên, Quảng Ninh đã tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thu hút ngày càng mạnh các nguồn lực đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước. Nội lực của Quảng Ninh cũng đã được phát huy mạnh mẽ, năm 2008 các doanh nghiệp công nghiệp dân doanh nở rộ với việc thành lập mới các cơ sở doanh nghiệp đã tạo bước phát triển vượt bậc so với trước. Toàn tỉnh hiện có trên 8.000 cơ sở công nghiệp bao gồm khu vực kinh tế trong nước (trung ương, địa phương), khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI, trong đó: Trung ương chiếm 6%, địa phương (tập thể, cá thể hỗn hợp) 92%, có vốn ĐTNN 2%. Nếu phân theo ngành công nghiệp thì khai thác mỏ chiếm 10%, chế biến 89,6%, sản xuất phân phối điện, nước 0,4%. Sự đa dạng của các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất công nghiệp, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế dân doanh phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng, đạt được những kết quả đáng kể, góp phần tích cực vào sự phát triển ngành công nghiệp tỉnh.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, phấn đấu đưa Quảng Ninh thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015, trong một cố gắng lớn kết hợp giữa công nghiệp Trung ương và địa phương, giữa trong nước và ngoài nước, tỉnh ta đã và đang hình thành 3 nhóm ngành công nghiệp tập trung dựa trên các lợi thế, tiềm năng là: công nghiệp đóng tàu, cơ khí; công nghiệp sản xuất điện và phát triển trung tâm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao xuất khẩu. Bằng những cố gắng lớn, Tập đoàn VINASHIN và Quảng Ninh đã đầu tư tập trung vào ngành công nghiệp đóng tàu với hàng chục nghìn tỷ đồng hiện đại hoá âu, đà, nhà xưởng và mua sắm các thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại tạo ra nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao hướng mạnh sang xuất khẩu. Ngành công nghiệp đóng tàu sau hai năm hội nhập đã tiến tới đóng mới các sản phẩm trọng tải lớn. Công ty Đóng tàu Hạ Long đã tổ chức hạ thuỷ thành công tàu 53.000 tấn ký hiệu HL05 mang tên AP DRZíC. Đây là con tàu thứ 4 trong loạt 15 tàu 53.000 tấn đóng mới cho chủ tàu Graig (Tập đoàn đầu tư tài chính Anh quốc) - Vương quốc Anh... Bên cạnh việc nâng sức đóng mới tàu trọng tải lớn, trên cơ sở đầu tư chiều sâu, ngành công nghiệp đóng tàu đã bước vào giai đoạn mới đóng tàu chuyên dùng kĩ thuật cao như tàu chở hoá dầu, chở conterner, tầu công trình... xuất khẩu. Công nghiệp đóng tàu Quảng Ninh vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng trên 53% và kim ngạch xuất khấu tăng gấp hơn 2 lần so với trước khi hội nhập, chiếm giữ thị phần đóng tàu lớn trong cả nước. Vóc dáng công nghiệp đóng tàu của Quảng Ninh đã vươn lên vị thế của các nước trong khu vực.

Bên cạnh nhóm ngành công nghiệp đóng tàu, công nghiệp cơ khí của Quảng Ninh có tốc độ đột phá. Đi từ nhỏ đến lớn, từng bước hiện đại hóa, hiện nay Quảng Ninh được biết đến là một trung tâm cơ khí lớn với các dự án cơ khí lắp ráp, chế tạo cơ khí mỏ… Ngành công nghiệp cơ khí sau nhiều năm lao đao đã điều chỉnh hướng đầu tư, hiện đại hoá năng lực sản xuất đi vào sản xuất kết cấu thép, siêu trường, siêu trọng, các thiết bị cho nhà máy nhiệt điện, xi măng, máy công cụ có thêm hàng chục loạt sản phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khấu, tạo ra kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD. Ngành công nghiệp nhiệt điện cũng có bước phát triển đột phá và đang trở thành mũi nhọn. Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí có công suất 55MW theo thiết kế năm 1975, sau quá trình mở rộng giai đoạn l đã phát điện năm 2007. Các dự án Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả, và các dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 1, 2 với công suất 600MW, Nhà máy Điện Mông Dương, dự án Nhiệt điện Thăng Long 300MW, đặt tại xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ. Mũi nhọn thứ 3 của Công nghiệp Quảng Ninh là Trung tâm sản xuất vật liệu với gần 30 dây chuyền sản xuất gạch tuynel công suất trung bình 20 triệu viên/lò và các dự án xi măng Thăng Long, Hạ Long, Cẩm Phả với công suất từ 2-2,2 triệu tấn/năm và Nhà máy Lam Thạch 0,6 triệu tấn/năm. Tập trung vào sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao. Ngành công nghiệp này ưu điểm thu hút gần chục ngàn lao động và tạo ra kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD.

Hai năm sau hội nhập WTO cùng cả nước, Công nghiệp Quảng Ninh đã từng bước định hình theo một chiến lược đúng. Tuy nhiên, nhìn lại bức tranh Công nghiệp Quảng Ninh còn khá nhiều bất cập. Điều đầu tiên phải nói tới là tốc độ tăng trưởng cao nhưng chất lượng tăng trưởng thấp. Cả 3 nhóm ngành công nghiệp mũi nhọn trên của Công nghiệp Quảng Ninh còn nặng tính gia công. Vật tư đầu vào của 3 nhóm ngành sản phẩm này phụ thuộc từ 60% đến 70% từ thị trường nhập khẩu do đó giá trị gia tăng của sản phẩm đạt thấp, lợi nhuận của nhà sản xuất không cao. Nguyên nhân chính là công nghiệp phụ trợ của Quảng Ninh chậm phát triển kéo theo tỷ lệ nội địa hoá chiếm tỷ trọng quá nhỏ. Về lâu dài, nguyên nhân này không sớm được khắc phục sẽ là vật cản cho chất lượng tăng trưởng và sự phát triển bền vững của nền kinh tế tỉnh nhà. Để thúc đẩy quá trình hội nhập sâu, rộng và thành công cho những năm tiếp theo, ngành Công nghiệp Quảng Ninh cần có nhiều giải pháp về chính sách, cơ chế, tạo môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh thông thoáng thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoàI nước, tiếp tục điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phát triển thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo thế cạnh tranh hơn nữa.

Cùng chuyên mục