Với mục tiêu đảm bảo an toàn cho người lao động, những năm qua TKV và các đơn vị thành viên đã triển khai nhiều biện pháp nhằm đảm bảo ATLĐ như: đầu tư công nghệ mới trong sản xuất, trang bị thiết bị an toàn hiện đại; thành lập hệ thống giám sát an toàn cho tất cả các lĩnh vực; ban hành các quy chế quản lý công tác AT-BHLĐ; quy định về xử lý người đứng đầu doanh nghiệp khi đơn vị để xảy ra TNLĐ chết nhiều người; phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác quản lý AT-BHLĐ.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đặc biệt là tuyên truyền bề nổi ở những nơi tập trung đông công nhân; rà soát biên soạn lại tài liệu huấn luyện, nội quy, quy trình kỹ thuật với nội dung thiết thực phù hợp với ngành nghề; công tác thanh tra, kiểm tra được quan tâm, hệ thống giám sát viên ATLĐ được biên chế với hơn 400 người tham gia hội đồng BHLĐ các cấp, gần 300 cán bộ chuyên trách công tác AT và hơn 5.000 ATVS viên, đủ lực lượng giám sát liên tục 3 ca sản xuất. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa tương xứng với đầu tư, công sức bỏ ra, các sự cố bục nước, nổ khí... vẫn diễn ra. Năm 2008 toàn Tập đoàn đã xảy ra 29 vụ TNLĐ làm chết 39 người, trong đó khối công nghiệp than xảy ra 20 vụ TNLĐ, chết 30 người.
Qua phân tích các sự cố TNLĐ nghiêm trọng cho thấy, nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức, ý thức của CBCN về tác phong công nghiệp chưa cao dẫn đến hành vi vi phạm an toàn, trong lò vẫn có hiện tượng công nhân hút thuốc lá ngay tại nơi chống cuốc hay công nhân đo khí bỏ vị trí đi chơi, nhưng vẫn cập nhật các thông số đầy đủ; không kiểm tra áp lực cột chống thuỷ lực trước khi làm việc, nhiều trường hợp kiểm tra trong lò chợ không có đồng hồ đo áp lực hoặc công nhân trực trạm dịch không biết đo nồng độ dung dịch như ở: Công ty Than Hòn Gai, Công ty Than Mạo Khê, Công ty Than Đồng Vông, Công ty Than Hồng Thái, Công ty 86, Công ty cổ phần Than Hà Lầm, Công ty cổ phần Than Mông Dương, Công ty Xây dựng mỏ Hầm lò I, Xí nghiệp Than Khe Tam; bắn mìn, không có còi tín hiệu, không cắt điện thiết bị khoan và máng cào trong lò chợ khi tổ chức bắn mìn ở Xí nghiệp Than Thành Công.
Kiểm tra cột chống thuỷ lực trước khi sản xuất tại lò chợ Công ty CP Than Mông Dương - TKV. ảnh: q.huy
Các đơn vị như Vàng Danh, Quang Hanh chưa ngăn chặn được các hành vi cố tình vi phạm của cán bộ, công nhân dẫn đến tai nạn lặp lại nhiều lần. Một bộ phận lãnh đạo và cán bộ quản lý chưa quan tâm thực sự đến công tác AT-BHLĐ; chưa thực hiện đúng quy định về lập kế hoạch, kiểm tra, thẩm định, phê duyệt tài liệu kỹ thuật theo quy định nên tài liệu kỹ thuật còn sai sót. Cán bộ, công nhân ở phân xưởng không nắm được thiết kế, hộ chiếu, quy trình kỹ thuật nên đã thực hiện sai gây TNLĐ nghiêm trọng. Bên cạnh đó nhiều lãnh đạo đơn vị cũng chưa chủ động đầu tư thiết bị an toàn theo quy phạm và không nắm được thông tin về tình trạng mất an toàn tại cơ sở sản xuất nên không có biện pháp xử lý kịp thời. Các cấp quản lý chỉ huy trực tiếp sản xuất chưa coi an toàn là một phần việc phải làm hàng ngày; sổ sách hàng ca đều ghi chép chung chung, nội dung sơ sài, không đầy đủ biện pháp an toàn cho từng công việc cụ thể; tình trạng thi công không đúng, không đủ thiết kế, hộ chiếu diễn ra hàng ca, hàng ngày không được xử lý kịp thời; còn điều hành công việc bằng kinh nghiệm của công nhân và thói quen dập khuôn lặp lại công việc một cách máy móc. Việc huấn luyện ở cấp phân xưởng chưa có sự kiểm tra, giám sát của cấp công ty dẫn đến nội dung huấn luyện không phù hợp, sát hạch người được huấn luyện bằng hình thức chép lại giáo trình, thậm chí nhiều bài sát hạch kiểm tra do một người viết.
Thí nghiệm nổ bụi than tại Trung tâm An toàn mỏ. ảnh: q.huy
Để hạn chế đến mức thấp nhất TNLĐ nghiêm trọng có thể xảy ra, chuyên môn, Công đoàn, Đoàn thanh niên các đơn vị trong TKV cần tăng cường phối hợp mở các lớp tập huấn về kiến thức an toàn cho cán bộ chuyên trách về an toàn, cán bộ Công đoàn, Đoàn thanh niên để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, công nhân về AT-BHLĐ. Đổi mới và nâng cao chất lượng huấn luyện an toàn cho người lao động; chú trọng công tác huấn luyện an toàn bước 2, bước 3 cho công nhân mới tuyển dụng. Phải tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra và giám sát liên tục việc thực hiện các quy định, quy trình, quy phạm, biện pháp đảm bảo an toàn lao động phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những vi phạm. Tiếp tục rà soát kiểm tra, khảo sát lại khai trường, nghiên cứu, tổng hợp cập nhật các thông tin về lò cũ, vùng khai thác cũ..., mới xuất hiện trong ranh giới, gần ranh giới mỏ, từ đó đề ra các giải pháp thực tế, phù hợp nhằm phòng ngừa các hiểm hoạ khí mỏ (cháy nổ, khí độc, ngạt khí), bục nước, sập đổ lò. Chú trọng đầu tư thực hiện quy phạm an toàn mỏ hầm lò gồm: hệ thống thông gió, các trạm đo khí, hệ thống cấp nước cứu hoả, phòng chống cháy nổ, hệ thống cung cấp khi nén trong lò, chiếu sáng, thoát nước, thông tin liên lạc, thiết bị thăm dò đi trước gương than, thiết bị cảnh báo khí Mê tan, thiết bị thông gió, đo khí, trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn và trạm cấp cứu mỏ, trạm y tế mỏ hiện đại. Trong quý I-2009 phải lắp đặt xong hệ thống giám sát tập trung tự động khí Mê tan, khẩn trương đầu tư lắp đặt hệ thống thiết bị kiểm soát người ra vào mỏ và máy dò tìm cứu nạn cầm tay. Trung tâm Cấp cứu mỏ đẩy nhanh tiến độ đầu tư mới thiết bị cấp cứu mỏ chuyên dùng và thường xuyên tổ chức huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao trình độ.
Khai thác xuống sâu, tài nguyên sẽ nhiều hơn, sản lượng khai thác lớn hơn, ổn định hơn; tác động xấu tới môi trường giảm dần nhưng tiềm ẩn tai nạn và nguy cơ mất an toàn lại cao hơn vì vậy ý thức kỷ luật, tính tự giác, tác phong công nghiệp của người lao động phải được nâng cao hơn nữa.