IV- Đấu tranh chống địch áp bức, bóc lột di chuyển trái phép máy móc thiết bị ở Khu mỏ
Song song với chính sách lừa bịp cưỡng ép nhân dân di cư vào Nam, thực dân Pháp ráo riết thực hiện mọi thủ đoạn nhằm vơ vét thật nhanh, thật nhiều sức người, sức của ở Khu mỏ trong thời gian chúng tạm chiếm đóng 300 ngày.
Bọn chủ mỏ Pháp đặt ra kế hoạch khai thác than một cách ồ ạt. Trong 7 tháng còn lại, chúng dự tính sẽ tìm mọi cách để bóc được gần 80 vạn tấn than, bằng mức khai thác của cả năm 1954. Chúng nâng mức khoán lên 50%, nâng ngày làm việc lên 12 giờ, dự tính sa thải 60% công nhân. Nhằm lấy được nhiều than với giá thành rẻ, bọn chủ mỏ đã tổ chức khai thác một cách bừa bãi, bỏ qua mọi quy trình kỹ thuật về tầng lò, kết hợp với việc phá hoại để gây khó khăn cho ta sau này. Chỉ sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết một thời gian ngắn, bọn chủ mỏ Pháp đã triển khai kế hoạch “tăng năng suất”. Nhà sàng Cửa Ông là một trong những nơi được chúng chọn làm thí điểm kế hoạch đó. Tại đây, bọn chủ tăng mức khoán lên 1,5 đến 2 lần, kéo dài ngày làm việc tới 12 tiếng và tăng cường cúp phạt lương công nhân.
Để bảo vệ lợi ích của công nhân mỏ, phá tan âm mưu thực hiện kế hoạch “tăng năng suất” của địch, cơ sở Đảng ở thị xã Cẩm Phả - Cửa Ông quyết định vận động công nhân nhà máy sàng đấu tranh. Sáng ngày 19 tháng 8 năm 1954, sau khi được tiêm phòng dịch, chị em công nhân yêu cầu cơ sở cho làm việc nhẹ. Tên Cai Canh, như mọi lần quát tháo chửi mắng, bắt chị em phải dọn xúc than khoán (hai người phải xúc đầy một xe 8 tấn mới được 1 công). Tất cả công nhân kíp sàng phẫn nộ bỏ về. Công nhân làm kíp chiều, do được tuyên truyền cũng nhất loạt đình công. Trước tinh thần đấu tranh kiên quyết của nữ công nhân nhà sàng và sự ủng hộ mạnh mẽ của công nhân các mỏ, các xí nghiệp khác trong vùng Cẩm Phả, bọn chủ mỏ buộc phải thoả mãn phần lớn yêu sách do công nhân đề ra.
Tại Hà Lầm, Hà Tu (Hòn Gai) bọn chủ mỏ đã từng bước phá hoại, dẫn đến làm sập một lúc hơn 100 mét lò ở lò 88 và 2 nhánh lò 75 (dài hơn 60m). Toàn bộ tầng ở khu vực này bị cắp hẹp 2m. Hậu quả là việc khai thác bị đình trệ, chủ mỏ lấy cớ đó dãn thợ. Cơ sở công đoàn của ta ở đây lập tức phát động công nhân, cai, ký làm đơn gửi chủ mỏ và Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Trung ương yêu cầu đình chỉ ngay những hành động phá hoại nhỏ, thi hành đúng tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ là bảo vệ tài sản công cộng… Trước sức mạnh đấu tranh của công nhân mỏ, bọn chủ mỏ Pháp buộc phải chấp nhận mọi yêu sách.
Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đặc khu uỷ, bằng những biện pháp đấu tranh khéo léo, kiên quyết, công nhân mỏ đã làm thất bại kế hoạch khai thác 80 vạn tấn than trong thời gian 300 ngày của bọn chủ mỏ Pháp.
Cũng trong thời kỳ này, bọn chủ mỏ Pháp tìm mọi thủ đoạn để di chuyển máy móc, thiết bị ra khỏi Khu mỏ. Trước tình hình đó, ngày 20-7-1954, sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương, Đặc khu uỷ Hòn Gai đã chỉ thị cho các cơ sở của ta trong Khu mỏ bí mật thành lập các tổ chức tự vệ công nhân ở các công trường, xí nghiệp để bảo vệ máy móc thiết bị và các cơ sở công nghiệp. Đến cuối năm 1954, Đặc khu uỷ lại tiếp tục chỉ thị cho các cơ sở Đảng tập trung lãnh đạo công nhân đấu tranh giữ máy, bảo vệ tầng lò. Giao cho các đội bảo vệ theo dõi việc tháo dỡ di chuyển máy móc của bọn chủ mỏ, ngăn chặn hành động phá hoại của bọn “Tổng uỷ di cư” tay sai của Đế quốc Mỹ. Đặc khu uỷ còn thành lập Ban chỉ đạo chống di chuyển máy móc trái phép; tập trung xây dựng lực lượng bảo vệ máy móc tại các xí nghiệp quan trọng như: Nhà sàng và bến Cửa Ông, bến Hòn Gai, Nhà máy điện cột 5, Các mỏ Hà Tu, Cẩm Phả…
Nhờ có chủ trương đúng đắn và sự chỉ đạo sâu sát của Đảng, với tinh thần đấu tranh dũng cảm của công nhân mỏ, toàn bộ các hệ thống máy móc, thiết bị quan trọng trong khai thác và phục vụ khai thác than đã được bảo vệ. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cho việc khôi phục và phát triển ngành sản xuất than sau này của Khu mỏ Quảng Ninh.
(Còn nữa)
Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (tập II)