V. KHU HỒNG QUẢNG RA ĐỜI, VÙNG MỎ ĐƯỢC HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG.
Xuất phát từ nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của địa phương, căn cứ vào các đặc điểm địa lý kinh kế, hành chính, dân cư, truyền thống lịch sử… của Vùng mỏ, ngày 22-2-1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 22/SL thành lập khu Hồng Quảng, trên cơ sở hợp nhất đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên (trừ các huyện Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách và Sơn Động sáp nhập trở lại tỉnh Hải Dương và tỉnh Bắc Giang). Các cơ quan chức năng về mặt Nhà nước của khu Hồng Quảng đã nhanh chóng được thành lập, kịp thời chỉ đạo các mặt công tác.
Thực hiện quyết định của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Quảng Yên và Đảng bộ đặc khu Hòn Gai đã hợp nhất thành Đảng bộ khu Hồng Quảng do đồng chí Hoàng Hữu Nhân làm Bí thư Khu uỷ. Toàn Đảng bộ có 2.000 đảng viên sinh hoạt trong 106 chi bộ. Các cán bộ, đảng viên ở mọi cương vị trong 2 Đảng bộ cũ đều một lòng đoàn kết thành một khối thống nhất, đấu tranh cho sự nghiệp làm chủ Khu mỏ.
Để tiến hành công tác tiếp quản Khu mỏ, Khu uỷ đã quyết định thành lập thành 2 Đảng uỷ ở 2 thị xã Hòn Gai, Cẩm Phả, 3 ban cán sự ở Quảng Yên, Cửa Ông, Cát Bà.
Cùng với tổ chức đảng, Khu uỷ cũng đã quyết định thành lập 2 uỷ ban quân chính, phụ trách công việc tiếp quản ở các thị xã, khu phố và xí nghiệp. Khu uỷ còn chỉ đạo việc xây dựng củng cố các ngành công an, kiểm sát… và các đoàn thể công đoàn, thanh niên, phụ nữ và mặt trận.
Ở vùng Hải Ninh, sau khi thực hiện tốt đợt củng cố Đông Bắc, ta đã củng cố chính quyền và lập chính quyền mới ở 17 xã. Chính quyền của ta đã kịp thời giải quyết các vấn đề quan trọng cấp bách như cứu đói, phát triển sản xuất, trấn áp bọn phản động đầu sỏ. Do vậy về cơ bản những lực lượng do địch cài cắm đã bị cô lập, một số ra đầu thú, số khác nằm im hoặc bỏ chạy, tình hình ở vùng biên giới ổn định đã hỗ trợ cho cuộc đấu tranh tiếp quản khu vực 300 ngày.
Cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân khu mỏ đã làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của bọn thực dân hiếu chiến Pháp, đế quốc Mỹ và làm tê liệt bộ máy tay sai của địch buộc chúng phải rút khỏi Khu mỏ theo đúng thời gian quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ.
Công việc tiếp quản khu mỏ được Đảng bộ và nhân dân khu Hồng Quảng ráo riết chuẩn bị, đặc biệt là việc chuẩn bị tiếp quản ngành sản xuất than.
Ngày 8-4-1955, hiệp nghị về việc chuyển giao mỏ than Hòn Gai đã được ký kết, chính phủ Pháp chính thức công nhận chủ quyền của công nhân mỏ. Ngày 11-4-1955, các hiệp định về việc chuyển giao khu chu vi Hải Phòng được ký kết giữa ta và Pháp. Ngày 18-4-1955, đội tiếp quản hành chính của ta tiến vào Cửa Ông, Cẩm Phả nhận bàn giao của Pháp. Ngày 22-4-1955, một lực lượng chính trị quân sự của ta chính thức tiếp quản Cửa Ông, Cẩm Phả, Quảng Yên. Ngày 24-4-1955, lực lượng quân sự của ta tập kết bên Bãi Cháy, chuẩn bị tiếp quản Hòn Gai. 12 giờ trưa ngày 24-4, tên lính Pháp cuối cùng rời Khu mỏ. 13 giờ cùng ngày, lực lượng quân sự và chính trị của ta vào tiếp quản Hòn Gai trong không khí tưng bừng náo nhiệt của ngày vui giải phóng. Sáng ngày 25-4-1955, ta đã tổ chức cuộc mít tinh lớn ở thị xã Hòn Gai, ra mắt Uỷ ban quân chính Hồng Quảng, đọc nhật lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi quân dân Hồng Quảng.
Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (tập II)