Đến với “Trường học giáo dục lòng yêu nước”

Vừa qua, Đoàn công tác của Đảng bộ Than Quảng Ninh đã ra thăm Côn Đảo. Khi chiếc máy bay của hãng hàng không Air MeKong hạ thấp độ cao, bay dọc theo bờ biển, từ trên cao nhìn xuống, chúng tôi ai cũng thấy xốn xang… Chiếc phi cơ lượn một vòng rồi nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay Cỏ ống, những người dân trên đảo gọi sân bay với cái tên dân dã như thế, vì xung quanh là những đồng cỏ cao gần một mét, thân to và hình ống. Một Côn đảo với vẻ đẹp hoang sơ hiện ra trước mắt mọi người, những cánh rừng và biển một màu xanh ngắt, những bãi cát trải dài, trắng mịn óng ả, không khí trong lành cùng với tiếng sóng rì rào khiến cả đoàn dường như quên hết mệt mỏi. Trên đường về thị trấn, anh hướng dẫn viên giới thiệu: Côn Đảo gồm nhiều hòn đảo lớn nhỏ, đảo lớn nhất chúng ta đang đi, còn có tên gọi là Côn Lôn lớn, có hình dáng như một con gấu, kia là đảo Trứng chỉ có diện tích một ki-lô-mét vuông nhưng trên đó là nơi sinh sản của nhiều động vật biển quý hiếm, kế đó là hòn Bẩy Cạnh, xa xa là hòn Côn Lôn nhỏ hay còn gọi là hòn Bà… Con đường đẹp nhất đảo mang tên Tôn Đức Thắng đưa chúng tôi đến khu trung tâm, thị trấn mơ màng dưới những bóng cây bàng cổ thụ và những bức tường đầy rêu phong, một băng rôn lớn với hàng chữ "Nhiệt liệt chào mừng đoàn đại biểu Đảng bộ Than Quảng Ninh đến thăm đảo".

Mũi Cá Mập, nơi những chiến sĩ cộng sản bị giam cầm tại Côn Đảo đã tổ chức vượt ngục vào đất liền thời kỳ trước Cách mạng. Ảnh: Đoàn Đức Chính
Mũi Cá Mập, nơi những chiến sĩ cộng sản bị giam cầm tại Côn Đảo đã tổ chức vượt ngục vào đất liền thời kỳ trước Cách mạng. Ảnh: Đoàn Đức Chính

Chị Phạm Thị Tám, Phó trưởng Ban Quản lý di tích Côn Đảo, ra đón đoàn, mời mọi người vào hội trường, tặng mỗi người một huy hiệu lưu niệm, giới thiệu về lịch sử của đảo cách đây hàng trăm năm và mời Đoàn đến thăm viếng nghĩa trang Hàng Dương, nơi yên nghỉ của hơn hai vạn tù nhân. Chúng tôi thật xúc động khi tận mắt nhìn thấy khoảng 1.900 ngôi mộ nhưng chỉ có 700 ngôi mộ có ghi tên các liệt sĩ, các mộ còn lại chỉ đơn giản có một tấm bia đỏ gắn ngôi sao vàng năm cánh, bởi vì các anh mất mà giờ đây không thể tìm được tên tuổi để trả lại cho các anh. Sau khi đặt vòng hoa và dâng hương tưởng niệm các liệt sĩ, đồng chí Bùi Văn Khích, Bí thư Đảng uỷ Than Quảng Ninh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Vệt Nam, thay mặt anh em trong Đoàn, đã phát biểu, nói lên tình cảm, lòng biết ơn của những người đảng viên, những người công nhân mỏ trước sự hy sinh anh dũng của các anh, các chị, cầu mong cho các anh, các chị được thanh thản và nguyện sẽ học tập các anh.

Có hai nơi đoàn chúng tôi dừng chân lâu nhất là ngôi mộ của đồng chí Vũ Văn Hiếu và ngôi mộ chị Võ Thị Sáu. Tại ngôi mộ đồng chí Vũ Văn Hiếu, người Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đặc khu mỏ, người đã trao lại đồng chí Lê Duẩn tấm áo duy nhất của mình trước khi hy sinh (nay hình ảnh đó được tạc lại bằng tượng đá đặt trong khuôn viên Nghĩa trang), những người đảng viên ngành Than thế hệ tiếp bước anh đã trân trọng phủ lên ngôi mộ lá cờ đỏ búa liềm, lá cờ đã tung bay trên cầu Poóc tích cảng Cửa Ông ngày 29-1-1929, tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ ngày 1-5-1930, lá cờ đã dẫn dắt những người công nhân mỏ tiến hành cuộc đình công ngày 12-11-1936 với khẩu hiệu "Kỷ luật và đồng tâm, chúng ta nhất định thắng", những sự kiện một thời có dấu ấn của anh, người cộng sản đã hóa thành bất tử, những nén hương thơm được thắp lên, những mái đầu hơi cúi, những lời cầu nguyện khe khẽ, đó là tình cảm của những người thợ mỏ.

Chúng tôi đã được nghe về sự hy sinh anh dũng của chị Võ Thị Sáu, nhưng chưa có lần nào đặc biệt như lần này, những hành động đầy khí phách, những lời nói thật đanh thép của người con gái tuổi trăng tròn, khiến kẻ thù phải khiếp sợ được kể lại qua giọng trầm ấm của chị Phạm Thị Tám. Ai cũng ngắm nhìn hình ảnh của chị được tạc trên một phiến đá trắng, khuôn mặt tròn như ánh trăng rằm, mái tóc buông xoã nhưng không làm mất đi vẻ nghị lực được thể hiện qua đôi mắt của chị, đôi mắt đang trìu mến nhìn chúng tôi. Không khí thật trang nghiêm, những bông huệ, bông hồng trắng được mang từ đất liền ra, những nén hương thơm ngát được thành kính dâng lên chị, cùng với âm hưởng của lời ca "Mùa hoa lê ki ma nở..." khiến mọi người thật xúc động, mấy chị trong đoàn se sẽ rút mùi xoa lau nước mắt, chúng tôi, không ai bảo ai, mọi người toả ra thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh, tưởng nhớ đến những người đã hiến dâng trọn cuộc đời mình cho Tổ quốc…

Chiều buông xuống, đã hẹn trước, cả đoàn tổ chức gặp mặt và giao lưu với đại diện Ban quản lý di tích Côn đảo và các bác cựu tù chính trị. Đại diện Đảng bộ, đồng chí Bùi Văn Khích, tặng Ban quản lý bức tranh Vịnh Hạ Long và bình hoa làm từ chất liệu than đá, tặng quà cho 6 bác là cựu tù chính trị hiện còn sinh sống trên đảo, anh chị em trong Đoàn cùng trò chuyện với các bác, không khí thật đầm ấm và vui vẻ. Bác Phan Hoàng Anh, Trưởng ban liên lạc cựu tù chính trị Côn Đảo, tâm sự: "Năm 1969, tôi tham gia du kích, làm Phó Bí thư Đoàn thanh niên xã Đông Hưng (An Biên, Kiên Giang) bị trúng thương và bị địch bắt vào khám Kiên Giang, năm 1970 bị đày ra Côn Đảo, tuổi còn trẻ, chưa phải là đảng viên, nhưng được sống chung với các chiến sĩ cộng sản, như được tôi luyện trong trường học giáo dục lòng yêu nước, nên dù phải chịu mọi cực hình dã man và tàn bạo, tôi vẫn trung kiên với Đảng. Sau ngày đất nước giải phóng, trở về quê, gặp lại người vợ hiền, tôi nhẹ nhàng: "Anh tưởng mình đã phải hy sinh trong tù nhưng Đảng đã cứu sống anh, chúng mình phải ra xây dựng Côn Đảo, đền ơn Đảng em ạ", thế là hai vợ chồng tôi ra sinh sống và làm việc ở đây".

Người cựu tù nữ duy nhất còn sống trên đảo là bác Nguyễn Thị Ni, tham gia cách mạng từ năm 1956, làm liên lạc trong đội ngũ biệt động thành, năm 1971 bác bị địch bắt rồi đày ra Côn Đảo, sau năm 1975 bác làm công tác phụ nữ tại TP Hồ Chí Minh. Như có duyên nợ với Côn Đảo, năm 1983 bác gặp người bạn đời là bác Đỗ Nam Hoàn, cán bộ Huyện uỷ Côn đảo vào TP Hồ Chí Minh học tập. Khi chúng tôi hỏi chuyện, bác Ni cười: "-Ông bảo, mình ra Côn Đảo, được hàng ngày thắp hương cho đồng đội đã hy sinh, rồi thể nào cũng được gặp các bạn tù đang sống trên mọi miền Tổ quốc ra viếng mộ những người đã khuất… Thế là tôi quyết định theo ổng ra ngoài này sống luôn". Rồi bác khe khẽ hát tặng chúng tôi một bài hát về khí phách của những người đã sống ở Côn Đảo. Mọi người cùng hoà theo tiếng hát của bác và hát tặng các bác những ca khúc về Quảng Ninh, những ca khúc ca ngợi sự hy sinh anh dũng của những anh hùng liệt sĩ, với cảm xúc dâng trào, anh Khích bắt nhịp và mọi người cùng hát vang "Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh...".

Sáng hôm sau, chúng tôi đến thăm nhà Chúa đảo, ngôi nhà được xây dựng cuối thế kỷ thứ 19, đây là nơi làm việc và thể hiện sự cai trị hà khắc của 53 đời Chúa đảo, trong đó có 39 đời Chúa đảo người Pháp và 14 đời Chúa đảo người Việt. Bây giờ đây là Nhà trưng bày di tích nhà tù Côn Đảo, những bức ảnh, những hiện vật ở đây đã tái hiện lại một phần sự áp bức, sự tra tấn dã man mà các chiến sĩ cộng sản phải chịu đựng trong thời gian bị giam cầm ở đây. Sau khi rời nhà Chúa đảo, chúng tôi đi tham quan hệ thống nhà tù của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chị hướng dẫn viên tận tình giới thiệu cặn kẽ từng khu trại giam, thời gian hàng trăm năm và hình ảnh bất khuất của những người cộng sản như tái hiện lại: Những phòng giam tập thể lạnh lẽo với cùm sắt, dây kẽm gai, những xà lim đá ngột ngạt, những "chuồng cọp", "hầm xay lúa", "hầm phân bò"... tất cả toát lên sự ghê rợn, tăm tối và âm u. Trong đoàn ai cũng xúc động trước những tang thương mà đế quốc thực dân đã gây ra, điều gì đã giúp các chiến sĩ cách mạng vượt qua và chiến thắng sự tàn bạo đó? Có lẽ chỉ có lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm và ngọn lửa cách mạng cháy trong con tim mỗi người mới tạo nên được sức mạnh để các chiến sĩ cộng sản vượt qua thử thách như vậy!

Hai ngày về với "Trường học giáo dục lòng yêu nước" trôi qua, chúng tôi lưu luyến tạm biệt Côn Đảo, tạm biệt cầu tàu 914, nơi có 914 người tù đã hy sinh khi bị bọn cai ngục bắt phải vác đá để xây dựng cầu tàu, tạm biệt những tán lá bàng rợp bóng mát. Chiếc máy bay của hãng hàng không Air MeKong lại vút lên trời cao, chúng tôi, những người đảng viên, những người thợ mỏ, tấm lòng sẽ còn lưu lại mãi nơi đây…

Lê Ngọc Dũng (Đảng uỷ TQN)

Cùng chuyên mục