Tiếp tục kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, chiều 27- 11, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dạy nghề; tiếp đó thảo luận về Dự án Luật Tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo, đại biểu Trần Văn Minh, Phó trưởng Ban Dân nguyện của UBTVQH, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh cùng tham gia phát biểu thảo luận.
Đại biểu nhất trí với tên gọi Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và sự cần thiết ban hành luật như Tờ trình của Chính phủ. Đại biểu nhận định, đây là một đạo luật khó, thiết lập một phương thức quản lý mới với phạm vi điều chỉnh rất rộng. Tạo hành lang pháp lý cho quản lý tổng hợp và thống nhất các hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Trong điều kiện đã có rất nhiều luật chuyên ngành có liên quan đến biển và hải đảo được ban hành. Do vậy, việc xây dựng luật phải đạt được yêu cầu, tạo được hành lang pháp lý để thực hiện quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo, nhưng không được phủ nhận, mâu thuẫn với các luật chuyên ngành. Có sự cụ thể phù hợp, thuận lợi cho việc thực thi nhưng không được trùng lặp với các quy định của luật chuyên ngành. Tổng quan dự thảo luật đã được chuẩn bị công phu, cơ bản đạt được các yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, đại biểu thấy có 2 vấn đề lớn cần phải quan tâm.
Thứ nhất, cần tiếp tục rà soát, đối chiếu với các luật chuyên ngành để đảm bảo tính chặt chẽ, thống nhất của hệ thống pháp luật như kiến nghị trong Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Báo cáo này đề cập đến khá nhiều nội dung cần rà soát.
Thứ hai, cần cụ thể hóa hơn các quy định của luật để đảm bảo thực hiện đúng thẩm quyền của Quốc hội cũng là để đảm bảo tính minh bạch của luật và giúp luật sớm đi vào cuộc sống. Dự thảo luật lần này có đến 14/76 điều, chiếm khoảng 20% là giao cho Chính phủ và các bộ, ngành quy định chi tiết, đấy là chưa kể đến có những điều còn quy định rất chung chung, nhưng cũng không quy định giao cho cơ quan nào cụ thể hóa. Nếu cứ cách quy định thiếu cụ thể như trong dự thảo luật thì cũng phải thẳng thắn nói rằng dù có được ban hành thì luật cũng sẽ còn rất lâu mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực và có hiệu quả.
Về cấp độ rủi ro ô nhiễm môi trường Biển và Hải đảo (Điều 40), đại biểu cho rằng tại Khoản 2 quy định vùng rủi ro ô nhiễm được phân thành 4 cấp: Thấp, Trung bình, Cao và rất cao; Khoản 3 đưa ra tiêu chí để phân cấp vùng rủi ro mới chỉ là đặt tên chứ không có tiêu chí cụ thể; đồng thời lại cũng không quy định cơ quan nào phải xây dựng tiêu chí cụ thể để thực hiện. Do đó, không khả thi trong việc lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo để có cơ sở trong việc tổ chức thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển. Đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu hoàn thành nội dung này.
Về phân cấp ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển (Điều 44), đại biểu cho rằng dự thảo luật phân ra thành 3 cấp: Ứng phó sự cố cấp cơ sở, ứng phó sự cố cấp khu vực, ứng phó sự cố cấp quốc gia. Tuy nhiên, các quy định lại rất chung chung, thiếu các tiêu chí phân cấp cụ thể và cũng không quy định giao cho cơ quan nào cụ thể hóa thêm nội dung này. Nếu chỉ với những quy định như trong dự thảo này, khi sự cố xảy ra, chắc chắn sẽ có khó khăn, thiếu kịp thời trong việc xác định cấp độ sự cố, xác định cơ quan chủ trì và các cơ quan có trách nhiệm phối hợp làm cho công tác triển khai khắc phục sự cố thiếu đồng bộ, kịp thời và kém hiệu quả. Do vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu, cụ thể hóa thêm nội dung này để có cơ sở tổ chức thực hiện.
Về vật chất nhận chìm ở biển (Điều 52), đại biểu nhận định rằng dự thảo luật quy định “Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan lập trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục vật chất được phép nhận chìm ở biển” là quá đơn giản trong khi đây là nội dung hết sức quan trọng để bảo vệ môi trường biển. Thực tế việc đổ thải trên biển hiện nay diễn biến rất phức tạp và khó kiểm soát. Do vậy, đại biểu đề nghị bổ sung ngay trong Luật loại vật chất hay nhóm vật, chất được phép nhận chìm ở biển hay chí ít nhất là quy định những tiêu chí cơ bản của vật, chất được nhận chìm và giao Chính phủ quy định cụ thể danh mục.
Về trách nhiệm quản lý nhà nước tổng hợp tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, đại biểu cho rằng Điều 68 dành Khoản 3 quy định ngắn gọn “Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong quản lý nhà nước tổng hợp về tài nguyên, mội trường Biển và Hải đảo”. Và Điều 70 đưa ra những nguyên tắc phối hợp rất chung rồi giao Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể. Đại biểu nêu rõ Luật này được xây dựng nhằm tạo hành lang pháp lý cho phương thức quản lý mới là quản lý tổng hợp và thống nhất, trong đó công tác phối hợp các Bộ, ngành, địa phương có vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công trong tổ chức thực hiện. Do vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cần cụ thể hơn các quy định này ngay trong dự thảo Luật để có cơ sở và tính pháp lý cao bảo đảm cho quá trình tổ chức thực hiện có hiệu lực, hiệu quả cao.
Về hoạt động nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo (Điều 17, 18), đại biểu nhận định rằng có lẽ do các nhiệm vụ KH&CN về tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo thường có quy mô lớn, độ phức tạp cao, cần sự quan tâm đầu tư ở cấp quốc gia nên cơ quan soạn thảo đã mặc định các nhiệm vụ KH&CN về tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo thuộc chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia, tuy nhiên, nhiều địa phương ven biển cũng đã chủ động triển khai các nhiệm vụ KH&CN về tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo thuộc địa phương quản lý để phục vụ cho phát triển KT - XH bền vững ở địa phương mình. Tỉnh Quảng Ninh những năm qua cũng đã thực hiện nhiều nhiệm vụ KH&CN về tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo thuộc phạm vi quản lý, đóng góp có hiệu quả vào gìn giữ cảnh quan, môi trường Biển và Hải đảo, Bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ di sản thiên nhiên thế giới phát triển kinh tế biển (phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch biển ...). Do vậy, để tăng tính chủ động của nhiều cấp nhiều ngành, huy động được nhiều nguồn lực và phù hợp với tình hình thực tế, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu có quy định phù hợp hơn về hoạt động nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường Biển và Hải đảo. Quy định cấp độ nhiệm vụ từ cấp tỉnh, bộ ngành trở lên là phù hợp.
Xuân Ninh (VP Đoàn ĐBQH & HĐND tỉnh Quảng Ninh)