Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia ý kiến vào Dự án Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam

Sáng ngày 12/6, Quốc hội khóa XIV tiến hành thảo luận tại hội trường về Dự án Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam. Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ điều hành phiên thảo luận. Liên quan đến dự án luật này, đồng chí Ngô Thị Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã tham gia nhiều nội dung.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh Ngô Thị Minh phát biểu tại phiên thảo luận
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Quảng Ninh Ngô Thị Minh phát biểu tại phiên thảo luận

Đại biểu Ngô Thị Minh khẳng định: Qua nghiên cứu, tôi nhận thấy, dự thảo luật cơ bản đã đáp ứng yêu cầu thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ra nước ngoài công tác, học tập, lao động, khám chữa bệnh, thăm thân hoặc du lịch... Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đảm bảo phù hợp hơn với xu thế hội nhập và kịp thời áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong việc cấp giấy tờ, kiểm soát xuất nhập cảnh khi công dân ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài về nước thì việc hoàn thiện thêm một số điều, khoản trong dự thảo luật nhằm khắc phục những quy định chung chung, khó triển khai trong thực tiễn là việc làm cần thiết.

Đại biểu Ngô Thị Minh chỉ rõ: Tại Điều 2 về giải thích từ ngữ, tôi thấy có một số từ ngữ được dùng nhiều lần, gắn với nội dung trong toàn bộ dự thảo luật nhưng chúng ta chưa đưa vào giải thích từ ngữ để người dân dễ nhận biết, dễ áp dụng cho từng đối tượng, phù hợp với từng loại hộ chiếu khác nhau. Ví dụ các cụm từ: hộ chiếu ngoại giao; hộ chiếu công vụ; hộ chiếu phổ thông. Đồng thời, việc giải thích cụm từ “cửa khẩu” tại Khoản 3, Điều 2 trong dự thảo luật chưa phù hợp với giải thích nêu tại Khoản 7, Điều 4 của Luật Biên giới quốc gia. Mặt khác, việc giải thích khái niệm “chíp điện tử” trong dự thảo là không chính xác. Vì khái niệm này nên dành cho việc giải thích khái niệm “hộ chiếu có gắn chíp điện tử” sẽ phù hợp và chính xác hơn.

Tại mục 1, Chương III về cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ, tôi đề nghị nên chọn phương án 1 nhưng phải điều chỉnh, làm rõ hơn khá nhiều nội dung. Cụ thể, tại Điều 8 và Điều 9, quy định về đối tượng cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ. Những quy định này chưa làm cho người đọc luật phân biệt rõ đối tượng được cấp với từng loại hộ chiếu này. Mặt khác, các quy định đối với hộ chiếu ngoại giao và hộ chiếu công vụ, dự thảo luật cũng chưa quy định rõ cơ quan có thẩm quyền cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ cho cá nhân ứng với từng loại hộ chiếu này. Trên thực tế, các quyết định hoặc văn bản cử người ra nước ngoài thường chỉ ghi tên, chức vụ, chứng minh thư hoặc căn cước công dân, mà không ghi nơi làm việc, cơ sở dữ liệu về xuất nhập cảnh (như quy định tại Khoản 7, Điều 2 của dự thảo luật, phải lưu thông tin về thân nhân của người được cấp) và cũng không có thông tin về chức vụ, nơi làm việc của người đề nghị. Vì vậy, để đảm bảo chặt chẽ, dự thảo luật cần bổ sung quy định “Tờ khai phải có xác nhận của cơ quan nơi cán bộ, công chức đang công tác”. Đối với hộ chiếu thường và hộ chiếu có gắn chíp điện tử, việc quy định “thu nhận ảnh, vân tay” của người đề nghị chỉ mới quy định cho người đề nghị cấp hộ chiếu có gắn chíp điện tử, vậy với người đề nghị cấp hộ chiếu không gắn chíp điện tử thì có phải nộp ảnh hoặc thu nhận ảnh hay không thì dự thảo luật chưa tường minh về nội dung này.

Tại Điều 15 của dự thảo luật quy định về trường hợp cấp giấy thông hành, tôi thấy các khoản quy định chưa sát với thực tiễn. Tôi đề nghị bổ sung đối tượng được cấp giấy thông hành là công dân Việt Nam thường trú ở địa phương ngoài tỉnh biên giới có nhu cầu xuất cảnh sang nước có chung đường biên giới với Việt Nam (vì hiện nay, Công an Quảng Ninh đang thực hiện cấp 2 loại giấy thông hành là Giấy thông hành nhập, xuất cảnh cho công dân Việt Nam thường trú tại các tỉnh/thành phố của Việt Nam có nhu cầu sang các tỉnh/thành phố biên giới của Trung Quốc tiếp giáp Việt Nam để tham quan, du lịch hoặc giải quyết mục đích riêng khác theo thông tư 43/2011/TT-BCA ngày 29/6/2011 của Bộ Công an và cấp Giấy thông hành xuất, nhập cảnh vùng biên giới cho công dân Việt Nam thường trú tại các xã, phường, thị trấn tiếp giáp đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc và cán bộ, công chức làm việc tại cơ quan nhà nước có trụ sở đóng tại huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh của Việt Nam tiếp giáp đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc được cử sang vùng biên giới đối diện của Trung Quốc để trao đổi công vụ theo Thông tư số 67/2013/TT-BCA ngày 11/12/2013 của Bộ Công An. Việc cấp 2 loại giấy thông hành nêu trên, đảm bảo được yêu cầu công tác quản lý, đảm bảo tính thuận lợi, nhanh chóng phục vụ tốt nhu cầu xuất cảnh, nhập cảnh của công dân cũng như góp phần phát triển kinh tế, du lịch của địa phương biên giới. Mặt khác, cơ quan chức năng nước bạn hiện cũng đang cấp 2 loại giấy thông hành cho công dân Trung Quốc nhập cảnh vào Móng Cái, Quảng Ninh gồm (giấy thông hành biên giới cấp cho cư dân biên giới và giấy thông hành xuất, nhập cảnh cấp cho công dân thường trú ngoài địa phương biên giới Quảng Tây có nhu cầu sang Móng Cái, Quảng Ninh tham quan, du lịch, hoạt động thương mại....

Từ viện dẫn trên, Đại biểu Ngô Thị Minh đã đề nghị Ban soạn thảo thiết kế lại Điều 15 theo hướng:  Điều 15 “Trường hợp cấp giấy thông hành”: Một là: Công dân Việt Nam có nhu cầu xuất cảnh sang các nước có chung đường biên giới với Việt Nam theo thỏa thuận song phương. Hai là: Công dân Việt Nam có nhu cầu xuất cảnh sang các nước theo điều ước quốc tế mà mà Việt Nam là thành viên. Ba là: Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 và 2 điều này.

Về một số vấn đề liên quan đến trẻ em trong dự án luật, Đại biểu Ngô Thị Minh cho rằng, tại Điều 5 quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân thì theo đại biểu nên bỏ Điểm c của Khoản 1 điều này. Vì Điểm c, Khoản 1, Điều 5 quy định: “Người đủ 14 tuổi trở lên có quyền đề nghị cấp hộ chiếu có gắn chíp điện tử hoặc hộ chiếu không gắn chíp điện tử theo quy định của luật này”. Theo Đại biểu, quy định này là thừa vì trẻ em nói chung (trong đó có người dưới 14 tuổi) có quyền được cấp hộ chiếu, trẻ em hiện nay sinh ra đã có số định danh cá nhân. Do vậy, việc cấp hộ chiếu cho công dân đều được gắn chíp điện tử theo lộ trình cụ thể (trừ các trường hợp quy định tại Điều 14 của luật này). Mặt khác, theo Đại biểu, tại Điều 6 về cấp giấy tờ xuất, nhập cảnh, tại Điểm c, Khoản 2 quy định: “Hộ chiếu cấp cho người chưa đủ 14 tuổi và các trường hợp quy định tại điều 14 của luật này không gắn chíp điện tử”. Đại biểu đề nghị bỏ cụm từ “người chưa đủ 14 tuổi và” sau cụm từ “hộ chiếu cấp”, khi đó Điểm c, Khoản 2 của Điều 6 được sửa lại là “Hộ chiếu cấp cho các  trường hợp quy định tại Điều 14 của luật này không gắn chíp điện tử”.

Đại biểu Ngô Thị Minh cũng đề nghị Ban soạn thảo dự án luật khi xem xét tính khả thi của các quy định về hộ chiếu có gắn chíp điện tử hoặc xem xét quy định về cơ sở dữ liệu Quốc gia về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân hoặc xem xét việc cấp, quản lý, kiểm soát hộ chiếu của công dân Việt Nam được số hóa, lưu trữ, quản lý, khai thác bằng cơ sở hạ tầng thông tin... Đại biểu khẳng định, đây là những quy định gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới trong lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh. Vì vậy, Đại biểu đề nghị cần bổ sung quy định chuyển tiếp để có lộ trình thực hiện cho phù hợp, bảo đảm tính khả thi trong việc khai thác, sử dụng, xử lý dữ liệu chung kể từ ngày luật này có hiệu lực thi hành.

Xuân Ninh (Văn phòng Đoàn ĐBQH-HĐND-UBND tỉnh)
 

Cùng chuyên mục