Xuất phát từ việc nhìn ra được những tồn tại trong năng lực lãnh đạo của Đảng và những bất cập, yếu kém trong hoạt động của tổ chức bộ máy của tỉnh hiện nay, Quảng Ninh đã xây dựng Đề án 25 về “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” với nhiều mục tiêu đột phá đề ra. Với việc triển khai Đề án này, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể sẽ phải tự đổi mới về tư duy, nhận thức, phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện để góp phần năng cao năng lực, sức chiến đấu và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu quả.
“Mệnh lệnh” từ thực tiễn
Trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh, Quảng Ninh đã nghiêm túc triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với đặc điểm của tỉnh. Đã đạt được một số kết quả quan trọng, thu được nhiều kinh nghiệm quý báu, nhiều bài học không những chỉ có giá trị riêng với tỉnh mà còn góp phần chung cho cả nước.
Tuy nhiên, từ hoạt động thực tiễn của tỉnh cũng bộc lộ rõ nét các tồn tại, hạn chế, yếu kém, như năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng, hoạt động của chính quyền, MTTQ và các đoàn thể còn có mặt hạn chế về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện, đề xuất cơ chế, chính sách; chậm phát hiện tiềm năng, thế mạnh, yếu kém, bất cập. Công tác dự báo thời cơ, thách thức còn hạn chế nên các giải pháp phát huy, khắc phục chưa thực sự sát với tình hình và hiệu quả chưa cao. Sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức Đảng, đảng viên giảm sút, thấy đúng không dám bảo vệ, sai không dám đấu tranh. Một số nơi còn trông chờ, ỷ lại, chưa chủ động, quyết liệt trong triển khai và giải quyết những vấn đề mới, phức tạp, bức xúc của nhân dân ở cơ sở…
Bên cạnh những bất cập trên, việc tổ chức bộ máy, biên chế của tỉnh cũng còn bộc lộ nhiều vấn đề, chức năng chồng chéo, biên chế tiếp tục tăng, nhất là một số lĩnh vực như giáo dục (bất cập trong cơ cấu về hệ thống trường, điểm trường, quy mô lớp, đội ngũ nhân viên trong trường, tỷ lệ biên chế gián tiếp…); y tế (sự cồng kềnh, chồng chéo của các đầu mối cấp huyện, sự bất hợp lý về quản lý, đầu tư, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống các cơ sở y tế cấp xã…); các đơn vị sự nghiệp kinh tế chưa chủ động khai thác nguồn thu mà còn trông chờ chủ yếu vào ngân sách nhà nước. Số lượng người hoạt động không chuyên trách cấp xã, phường hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước còn lớn. Đơn cử như thị trấn Mạo Khê (Đông Triều) có quy mô dân số lên tới trên 40.000 người bằng quy mô cấp huyện nhưng cũng được giao như khung biên chế cấp xã loại I như xã Thanh Lân, huyện Cô Tô với quy mô 379 hộ với gần 1.500 nhân khẩu. Số vị trí không chuyên trách cấp xã, thôn tương đương bằng với số định biên cán bộ, công chức, viên chức, người lao động toàn tỉnh (khoảng 33.000). Việc giao số lượng những người hoạt động không chuyên trách mang tính chất cào bằng, có thôn, bản dưới 30 hộ dân (khoảng 150 nhân khẩu) cũng bố trí đủ 3 chức danh không chuyên trách. Trình độ chuyên môn CBCC cấp xã còn thấp (9,71% chưa qua đào tạo)… Đó là những bất cập rất lớn ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp để khắc phục.
“Mạnh tay” đưa ra các giải pháp
Nhìn nhận rõ những bất cập hạn chế, trong Đề án 25, tỉnh đã rất “mạnh tay” trong việc đưa ra các giải pháp. Chẳng hạn như để đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bên cạnh việc tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn chiến lược trong việc ban hành, cụ thể hoá chỉ thị, nghị quyết của các cấp uỷ Đảng. Tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát… thì BTV Tỉnh uỷ đã chỉ đạo nghiên cứu xây dựng các mô hình đổi mới rất đột phá chưa có trong quy định. Trong đó, đáng chú ý như đề xuất hợp nhất các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp uỷ với các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, cụ thể là Ban Tổ chức Tỉnh uỷ với Sở Nội vụ với tên gọi là Ban Tổ chức tỉnh Quảng Ninh; Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ với Thanh tra tỉnh với tên gọi mới là Ban Thanh tra - Kiểm tra; Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ với Sở Thông tin - Truyền thông; hợp nhất Văn phòng Tỉnh uỷ, Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND. Sắp xếp lại các tổ chức Đảng thuộc Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh hiện nay. Sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của MTTQ và các đoàn thể...
Bên cạnh đó, Đề án cũng đề xuất thực hiện nhất thể hoá các chức danh và tăng cường kiêm nhiệm, ví dụ như ở cấp xã cơ bản thực hiện mô hình Bí thư cấp uỷ đồng thời là Chủ tịch UBND; những nơi cá biệt không thực hiện được thì Bí thư cấp uỷ kiêm nhiệm Chủ tịch HĐND. Ở cấp huyện, tiếp tục thực hiện mô hình nhất thể hoá Bí thư cấp uỷ kiêm Chủ tịch UBND. Mở rộng cơ chế dân chủ trực tiếp trong việc hình thành, xây dựng tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị. Trong đó sẽ thực hiện thí điểm bầu cử trực tiếp các chức danh ở cơ sở theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Thực hiện chủ trương đại hội bầu trực tiếp bí thư cấp uỷ tại đại hội cấp dưới cơ sở, cấp cơ sở và một số đảng bộ cấp huyện... Thống nhất quản lý tổ chức bộ máy và biên chế theo hướng tập trung một đầu mối quản lý về tổ chức, bộ máy, biên chế trong cả hệ thống chính trị tránh “cát cứ”, chồng chéo, giữa khối Đảng, đoàn thể với cơ quan quản lý nhà nước… ở địa phương. Tăng cường phân cấp, giao quyền chủ động cho các địa phương quyết định về bộ máy, biên chế… theo định hướng khung của Trung ương, chức năng nhiệm vụ được giao và thực tiễn của từng địa phương. Thành lập một số đơn vị mới, đồng thời chuyển đổi mô hình hoạt động của một số cơ quan, doanh nghiệp... trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh.
Mặc dù vừa làm, vừa rút kinh nghiệm và xin ý kiến chỉ đạo của Trung ương nhưng có thể thấy rằng sau một thời gian ngắn triển khai, Đề án 25 đã bước đầu khẳng định được sự đúng đắn phù hợp trong thực tiễn. Chỉ tính riêng đến thời điểm hiện nay, đã thực hiện ghép giảm 54 điểm trường lẻ, chuyển đổi mô hình 2 ban quản lý chợ (Tiên Yên, Hải Hà). Còn về lâu dài, theo tính toán sơ bộ, toàn tỉnh sẽ giảm được hàng trăm đầu mối, hàng nghìn biên chế với số kinh phí giảm chi thường xuyên đảm bảo hoạt động của bộ máy khoảng 300 tỷ đồng mỗi năm (bằng khoảng 11,5% tổng quỹ lương của tỉnh và bằng tổng số thu ngân sách nội địa của 6 huyện). Nguồn kinh phí tiết kiệm từ thực hiện Đề án được sử dụng để phục vụ công việc sắp xếp, tinh giản bộ máy theo hướng tập trung chi cho con người, chi đầu tư các công trình phúc lợi xã hội phục vụ nhân dân và tập trung chi cho đào tạo, đào tạo lại đội ngũ.
Minh Thu