Những năm gần đây, ngành Công nghiệp của tỉnh đã có những bước chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng luôn duy trì ở mức cao và ổn định. Hiện nay, giá trị sản xuất công nghiệp (CN) trên địa bàn tỉnh chiếm tỷ trọng trên 50% và tăng bình quân 20,1%/năm, số lượng các cơ sở CN cũng tăng mạnh cùng với sự đa dạng các thành phần kinh tế tham gia đầu tư.
Quảng Ninh là một trong những địa phương có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất nước, như: than, đá vôi, nguyên liệu sản xuất xi măng (sản lượng xi măng có thể đạt trên 12 triệu tấn/năm) và sản lượng điện có thể đạt tới 4.000-5.000MW vào năm 2010; đóng tàu thuỷ (hiện nay đang đóng tàu có trọng tải 53.000 tấn, và có thể đóng tàu trọng tải đến 70.000 tấn...) và nhiều ngành CN quan trọng khác liên quan đến xuất, nhập khẩu nhờ vào lợi thế của cảng Cái Lân - cảng nước sâu duy nhất và là cửa ngõ ra biển Đông của 25 tỉnh thành phía Bắc. Phát huy lợi thế này, từ nhiều năm nay, ngành CN luôn giành thế chủ động, hoạch định những giải pháp và bước đi cụ thể, kịp thời để sản xuất CN đi vào ổn định và tăng trưởng. Kết quả đạt được là sự hình thành rõ nét các trung tâm CN, các khu cụm CN, các làng nghề, tiểu thủ CN như: Trung tâm CN tàu thuỷ; trung tâm CN sản xuất xi măng; trung tâm CN cơ khí siêu trường, siêu trọng; trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao...
Bằng những cố gắng lớn, Tập đoàn VINASHIN và tỉnh đã đầu tư tập trung vào ngành CN đóng tàu với hàng chục nghìn tỷ đồng hiện đại hoá âu, đà, nhà xưởng và mua sắm các thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại tạo ra nhiều dòng sản phẩm chất lượng cao hướng mạnh sang xuất khẩu. Công nghiệp đóng tàu đã tiến tới đóng mới các sản phẩm trọng tải lớn. Bên cạnh việc nâng sức đóng mới tàu trọng tải lớn, trên cơ sở đầu tư chiều sâu, ngành CN đóng tàu đã bước vào giai đoạn mới đóng tàu chuyên dùng kĩ thuật cao như tàu chở hoá dầu, chở conterner... xuất khẩu. Đi từ nhỏ đến lớn, từng bước hiện đại hóa, hiện nay Quảng Ninh được biết đến là một trung tâm cơ khí lớn với các dự án cơ khí lắp ráp, chế tạo, cơ khí mỏ. Ngành CN cơ khí sau nhiều năm lao đao đã điều chỉnh hướng đầu tư, hiện đại hoá năng lực sản xuất đi vào sản xuất kết cấu thép, siêu trường, siêu trọng, các thiết bị cho nhà máy nhiệt điện, xi măng, máy công cụ có thêm hàng chục loại sản phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, tạo ra kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD. Bên cạnh ngành CN đóng tàu và công nghiệp cơ khí, ngành CN nhiệt điện cũng có bước phát triển đột phá trở thành mũi nhọn. Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí có công suất 55MW theo thiết kế năm 1975, sau quá trình mở rộng giai đoạn I đã đạt công suất 300MW năm 2007. Lưới điện cao áp với sự đầu tư khá lớn, những năm gần đây đã đưa 2 trạm biến áp Tràng Bạch và Hoành Bồ có tổng dung lượng 375MW vào vận hành. Hệ thống các trạm biến áp 220KV và 110KV đã đảm bảo khả năng chuyển tải điện từ lưới quốc gia phục vụ sự phát triển CN dân sinh của tỉnh. Các dự án Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả, dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 2 với công suất 600 MW, Nhà máy Điện Mông Dương, Dự án nhiệt điện Thăng Long 300 MW, đặt tại xã Lê Lợi (Hoành Bồ). Đối với CN sản xuất vật liệu xây dựng hiện đã có khoảng 30 dây chuyền sản xuất gạch tuynel công suất trung bình 20 triệu viên/lò và các dự án xi măng Thăng Long, Hạ Long, Cẩm Phả với công suất từ 2-2,2 triệu tấn/ năm và Nhà máy Lam Thạch 0,6 triệu tấn/năm...
Hiện nay, toàn tỉnh có 5 khu CN được Chính phủ phê duyệt đưa vào quy hoạch phát triển khu CN chung của toàn quốc với số vốn đăng ký của các doanh nghiệp FDI là 145 triệu USD và 7.000 tỷ VND của các doanh nghiệp trong nước. 3 KCN đang được triển khai gồm: KCN Cái Lân với 31 dự án tham gia; KCN Việt Hưng 4 dự án và KCN Hải Yên 4 dự án. 2 KCN đang trong quá trình san lấp mặt bằng là KCN Hải Hà và KCN Đông Mai. Ngoài ra còn có 11 cụm CN trong đó có 5 cụm đã có chủ đầu tư; có 4 làng nghề truyền thống (làng nghề và làng nghề truyền thống gốm sứ Vĩnh Hồng; làng nghề và làng nghề truyền thống gốm sứ Đức Chính huyện Đông Triều; làng nghề truyền thống đóng, sửa chữa tàu thuyền Hà An; làng nghề đan thuyền, ngư cụ thôn Hưng Học, xã Nam Hoà, huyện Yên Hưng). Các làng nghề này đã thu hút khoảng 14.900 lao động, chiếm 4,93% tổng số lao động nông thôn và chiếm 63,9% so với lao động công nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh.
Như vậy, bức tranh CN tỉnh ta trong những năm qua đặc biệt là 10 tháng đầu năm 2008 đã từng bước định hình theo một chiến lược đúng, nội lực đã được phát huy mạnh mẽ. Giá trị sản xuất CN 10 tháng đầu năm 2008 đạt 17.701,4 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ. Trong đó khu vực CN Trung ương tăng 9,4%; ngoài quốc doanh tăng 19,2% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 30,8%. Chiếm ưu thế hơn cả vẫn là khối CN khu vực Nhà nước bởi các doanh nghiệp này có năng lực vốn, công nghệ và thị trường phân phối rộng. Mặc dù số lượng doanh nghiệp trên địa bàn không nhiều nhưng CN khu vực này đã tạo ra giá trị doanh thu 7.522 tỷ đồng/năm, bằng 2/3 tổng giá trị sản xuất toàn ngành. Riêng đối với CN địa phương cũng đạt khoảng 1.627 tỷ đồng với 530 doanh nghiệp và khoảng 6.000 hộ sản xuất tiểu thủ CN hoạt động trong lĩnh vực này. Một số địa phương thực hiện vượt mức kế hoạch và có sức tăng trưởng cao là Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái, Đông Triều, Yên Hưng...
Một trong những quan tâm lớn nhất của tỉnh trong những năm qua đó là phát triển mạnh mẽ các khu, cụm, điểm công nghiệp. Giải quyết vấn đề này, tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương về gắn lập quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, hạn chế và tiến tới chấm dứt việc cho phép đầu tư các dự án có vấn đề về môi trường. Ban quản lý các KCN đã coi việc lựa chọn các dự án đầu tư thích hợp vào những địa bàn đòi hỏi cao về môi trường là một tiêu chí quan trọng. Để đảm bảo thực hiện được chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động các khu cụm, điểm CN, tỉnh đã xin phép Thủ tướng Chính phủ cho Công ty Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh thay thế Tổng công ty LICOGI làm chủ đầu tư KCN Cái Lân (là KCN đầu tiên của tỉnh); có chủ trương hỗ trợ về chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và lãi vay một số năm cho Công ty; đầu tư hạ tầng xây dựng các công trình trong hàng rào KCN, lựa chọn chủ đầu tư cho KCN Việt Hưng, Đông Mai, Hải Yên, Chạp Khê...
Với quan điểm tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành CN hết sức nặng nề, song tin tưởng rằng nhiệm vụ và giải pháp nêu ra trong những năm tới ngành CN sẽ vượt qua khó khăn, thách thức để đạt được các chỉ tiêu chủ yếu, đặt nền móng vững chắc Quảng Ninh trở thành tỉnh CN theo hướng hiện đại vào năm 2015 như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.