Năm nay ông Nguyễn Văn Hưu, Nghệ nhân dân gian về hát giao duyên vùng biển ở làng chài Cửa Vạn (phường Hùng Thắng, TP Hạ Long), đã bước sang tuổi cận kề 90, nhưng vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Khi biết chúng tôi muốn tìm hiểu về hát giao duyên của ngư dân làng chài Cửa Vạn, ông tỏ ra rất hào hứng. Ông bảo:
- Hát giao duyên của làng chài Cửa Vạn có từ bao giờ, tôi cũng không biết nữa. Từ khi sinh ra, tôi đã gắn bó với con thuyền, bám biển. Đời ông, đời cha tôi cũng thế. Khi còn nhỏ, tôi đã thấy ông bà, cha mẹ tôi và nhiều người trong làng hát. Cuộc hát có thể diễn ra trên bờ trong các dịp hội hè hoặc diễn ra trên biển, giữa các thuyền bên nam và bên nữ khi họ đi hái củi hoặc đi đánh hà, bắt ngán. Hát giao duyên có nhiều loại: Hát đúm, hát chèo đường, hát đám cưới... Về câu chữ nếu chép ra đọc thì gần như nhau, đều là câu lục bát nhưng khác nhau ở độ nhấn nhá, luyến láy của người hát. Ngày xưa, người làng chài đi biển thường mượn câu hát để chào hỏi nhau, đố vui nhau để cùng xua đi cái mệt nhọc. Trai gái thì mượn câu hát để làm quen, tỏ tình hoặc bày tỏ tâm tư khi tình duyên trắc trở, chúng tôi học hát chỉ là truyền miệng, hát nhiều mà thành nhớ, nhớ rồi không thể quên được. Trai gái quen nhau, biết nhau cũng là phần nhiều qua các dịp hát đối đáp với nhau. Tôi lấy được vợ cũng qua từng câu hát... “...Đến đây anh mới hỏi thật nàng/ Kim Châu đã định cành vàng hay chưa?/ Hay là duyên phận không ưa?/ Hay là quyết chí đợi chờ nơi nao?’’... Rồi: “...Trên mây sa/ Có Hòn Gà Chọi/ Anh hát câu này anh gọi nàng ra/ Những lời mình hát đêm qua/ Đêm nay hát nữa mau ra hát cùng/ Hát cho con gái có chồng/ Con trai có vợ, nạ dòng có con...”... Đấy, chính nhờ những câu hát như thế mà tôi quen, rồi cưới được bà lão nhà tôi đấy! (cười).
- Thưa ông, ông “bén duyên” với hát giao duyên ở làng chài từ khi nào?
+ Tôi biết hát giao duyên từ năm 18 tuổi. Thời trai trẻ, tôi vốn mê văn nghệ, nên thuộc khá nhiều các câu hát giao duyên. Tôi có thể hát từ chiều đến sáng. Trong quá trình đi biển, mưu sinh kiếm sống, bạn chài thường mượn câu hát đố nhau để đỡ cảm giác đường xa. Trai gái tìm hiểu nhau cũng mượn câu hát rất tình tứ. Thế rồi, đêm xuống, mỗi gia đình trên chiếc thuyền nan mênh mông sóng nước, cũng lấy câu hát để giao lưu kết bạn. Những câu hát cất lên để tìm bạn đường, để các con thuyền xích lại gần nhau hơn. Cái khó của hát giao duyên đòi hỏi người hát phải biết tìm câu đối đáp lại sao cho hợp với câu hát...
- Bây giờ ở làng chài Cửa Vạn có nhiều người biết hát giao duyên như thế không, thưa ông?
+ Cũng có vài người biết hát nhưng chủ yếu là người già, người trẻ rất ít. Ngày trước, đám cưới rước trên sông cũng tổ chức hát đối, nhưng bây giờ khác trước rồi, đám cưới không còn tổ chức ở dưới thuyền nữa mà đưa vào đất liền, ở các nhà hàng nên câu hát cũng không còn nữa...
- Được biết, trước đây ông cũng đã từng tham gia dạy hát giao duyên cho bà con ngư dân làng chài?
+ Khi trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn đi vào hoạt động, tôi được mời ra truyền dạy lại nghệ thuật hát giao duyên cho một số bạn trẻ của làng chài, nhưng chỉ được một thời gian. Nói thật, thanh niên bây giờ chỉ thích tiếp thu những kiểu hát mới, không còn hào hứng với những lối hát xưa cũ nữa. Ngay cả con, cháu tôi, chúng nó cũng chẳng muốn học nữa... Mặc dù tôi rất muốn truyền đạt lại cho một vài đứa để sau này khi tôi mất đi, nét đẹp văn hoá độc đáo của ngư dân làng chài Cửa Vạn sẽ không bị thất truyền...
- Ông có sợ rằng một ngày nào đó nét văn hoá hát giao duyên làng chài trên Vịnh sẽ không còn nữa?
+ Nói thật, nếu cứ như hiện nay, ở đâu tôi không biết, nhưng ở cái thôn Cửa Vạn này, tôi sợ rằng khi tôi mất đi thì sẽ không còn ai biết hát giao duyên nữa, chỉ còn vài người già biết hát, nhưng biết không nhiều, họ chỉ hát suông được vài câu chứ không hát đối đáp được. Hát giao duyên, người hát phải đối đáp được thì mới hay. Tôi cũng đã chép riêng ra những quyển sổ, nếu ai có nhu cầu muốn học thì tôi cho mượn. Đã hàng chục năm nay do thay đổi của đời sống xã hội nên sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân nơi đây cũng có nhiều đổi thay. Những con thuyền vẫn lênh đênh trên Vịnh, kiếm sống, mưu sinh nhưng không còn cất lên câu hát nữa...
- Là một nghệ sĩ dân gian, ông mong muốn nhà nước có chế độ gì cho NNDG?
+ Phần lớn nghệ nhân dân gian khi được nhà nước phong tặng danh hiệu thì tuổi đã cao. Tôi già rồi không còn sống được bao lâu nữa, tôi mong nhà nước có chế độ đãi ngộ gì đó để cho những người nghệ nhân dân gian như chúng tôi có thể bảo tồn và truyền bá những vốn di sản văn hoá sống cho con cháu của mình. Nhà nước nên có chế độ, chính sách cho nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, dù ít dù nhiều, đó cũng là sự động viên, khuyến khích rất lớn đối với họ. Bởi vai trò của nghệ nhân dân gian rất lớn trong việc truyền dạy, lưu giữ, sưu tầm, bảo tồn các giá trị văn hoá trường tồn của dân tộc, là người truyền lửa cho lớp trẻ niềm đam mê văn hoá dân gian...
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
Thu Hương (thực hiện)