Ngành Than - “cái nôi” nuôi dưỡng nhiều văn nghệ sĩ Quảng Ninh

Ngành Than không chỉ là ngành công nghiệp chủ lực của Quảng Ninh mà còn là “cái nôi” nuôi dưỡng nhiều thế hệ văn nghệ sĩ Quảng Ninh. Từ đời sống lao động, chiến đấu và tình cảm của người thợ mỏ, nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật đã ra đời. Không ít văn nghệ sĩ trưởng thành từ chính những công trường, hầm mỏ của vùng Than.

Không gian khơi nguồn cảm hứng sáng tạo

Đi lên từ đời sống cần lao của người thợ mỏ, có thể kể tới những nhà văn tiêu biểu ở ngành Than như: Võ Huy Tâm, Tô Ngọc Hiến, Võ Khắc Nghiêm, Nguyễn Sơn Hà, Trần Ngọc Tảo, Trần Tâm, Ngô Xuân Hội, Hoàng Văn Lương, Đào Ngọc Vĩnh, Lương Vĩnh Phúc, Nguyễn Ngọc Sính, Lê Xuân Nguyện, Vũ Thảo Ngọc, Văn Chư, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Đại Nghĩa, Trần Đình Nhân...

Họ đã thông qua ngòi bút của mình vẽ nên một bức tranh sinh động về vùng than và người thợ mỏ. Đó là một vùng than từ những năm thuộc Pháp cho đến giai đoạn sau này khi người thợ mỏ vừa sản xuất vừa chiến đấu chống giặc Mỹ ném bom bắn phá và khôi phục sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm hòa bình, đổi mới với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.

Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận và hoạ sĩ Trần Văn Cẩn (từ trái sang) trong một lần tới nhà đàm đạo với nhà văn Võ Huy Tâm. Ảnh: Đoàn Đạt
Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận và hoạ sĩ Trần Văn Cẩn (từ trái sang) trong một lần tới nhà đàm đạo với nhà văn Võ Huy Tâm. Ảnh: Đoàn Đạt

Luôn đau đáu với vùng than, nhà văn Võ Huy Tâm được các thế hệ yêu mến gọi là “nhà văn của thợ mỏ”. Nhà văn Võ Khắc Nghiêm từng chiêm nghiệm: Ở Vùng mỏ, ra ngõ gặp than, ra ngõ gặp chuyện, gặp người thợ, tức là ra ngõ là gặp nhân vật của tiểu thuyết. Bởi vậy, với ông thì “việc tìm nguyên mẫu để viết không khó mà viết thế nào cho hay mới là khó, không thể sống lơi khơi, “cưỡi ngựa xem hoa””. Lối sống của người thợ mỏ cũng ảnh hưởng tới sáng tác của ông. Ông bảo, ông học được từ người thợ lò cách thể hiện “đi thẳng” vào truyện chân thực, không sa đà vào mây gió trăng sao…

Mỗi tác giả có phong cách viết riêng, khai thác những mảng đề tài riêng nhưng đa số họ đều cho rằng, tác phẩm của mình chỉ phản ánh được một phần nhỏ cuộc sống phong phú, đa dạng của người thợ mỏ vùng than. Điều đó cho thấy, Vùng mỏ - không gian truyền cảm hứng sáng tạo cho họ, thật rộng lớn, sâu sắc. Có những nhà văn lấy tư liệu cho trang viết từ chính đời sống thợ thuyền của mình và bạn bè, về những câu chuyện có thật mà họ từng chứng kiến, từng nghe, từng sống.

Nhà văn Trần Tâm từng tâm sự: Nhà tôi đến giờ là 5 đời làm thợ mỏ ở vùng than Cẩm Phả. Cả gia tài sáng tác của tôi có hơn 20 đầu sách thì hầu như là viết về người công nhân mỏ thời của tôi, vào giai đoạn đất nước bắt đầu đổi mới. Trong đó, tiểu thuyết Đất bỏng kể về Vùng mỏ trong suốt hơn một thế kỷ, sau khi người Pháp bắt đầu khai mỏ… Ông viết về cuộc sống, nghề mỏ và người công nhân mỏ hôm qua, hôm nay với nhiều trăn trở và lòng tin yêu bền bỉ, chỉ với tâm nguyện lưu giữ một lớp ký ức để các thế hệ hôm nay và ngày sau biết lớp thợ trước đây đã sống, làm việc ở mỏ như thế nào.

Một bức tranh vẽ về mỏ của họa sĩ Ngô Phương Cúc.
Một bức tranh vẽ về mỏ của họa sĩ Ngô Phương Cúc.

Không chỉ văn học, từ ngành Than đã nuôi dưỡng nhiều tài năng VHNT khác. Trong đó, mỹ thuật có thể kể tới nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc nổi tiếng trong tỉnh và cả nước, như: Ngô Văn Túc, Phạm Phi Châu, Hoàng Ngọc Châu, Lê Vân Hải, Nguyễn Hoàng, Bùi Đình Lan, Ngô Phương Cúc, Lê Chuyền, Đinh Sơn Hải, Nguyễn Hữu Viện, Bùi Trọng Hướng, Nguyễn Xuân Thương, Duy Tường, Vũ Quý, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Tâm Nhâm, Tống Giang Minh... Nhiếp ảnh có Đoàn Đạt, Đoàn Đức, Đỗ Kha, Quang Trong, Khắc Đạm, Nguyễn Ngọc Huấn, Dương Phượng Đại…

Sân khấu, âm nhạc của Quảng Ninh cũng có nhiều nghệ sĩ có tiếng từng gắn bó với ngành Than, như: Văn Tuất, Thanh Việt, Vân Anh, Quang Thọ, Phan Cầu, Trần Câu, Quý Sinh, Văn Tích, Đức Nhuận, Lê Thêm, Hoa Lý, Thu Thủy... Họ đã sáng tác, tổ chức biểu diễn phục vụ công nhân mỏ, phục vụ đồng bào, chiến sĩ nơi biên giới, hải đảo và từng tham gia vào các đội văn công xung kích phục vụ chiến trường miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Từ đây, có những người công nhân mỏ đã đi theo con đường ca hát chuyên nghiệp như: NSND Quang Thọ, ca sĩ Hoàng Thái, Đức Lương, Lương Ngọc Diệp...

Nguồn đề tài không vơi cạn

Không chỉ là cái nôi nuôi dưỡng nguồn văn nghệ sĩ đi lên, trưởng thành từ than mà ngành Than và người công nhân mỏ một thời cũng là đề tài xuyên suốt nhiều năm trong các sáng tác của văn nghệ sĩ cả nước.

Vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước, nhiều văn nghệ sĩ Trung ương đã về thực tế sáng tác ở Vùng mỏ, gắn bó với các mỏ than, với đời sống người thợ. Từ đây, nhiều sáng tác về văn chương, mỹ thuật, về âm nhạc đã ra đời, trở thành niềm tự hào của vùng than. Nhà văn Trần Tâm qua nghiên cứu đã chia sẻ: Năm 1958, nhà thơ Huy Cận dẫn đầu một số nhà văn, nhà thơ về thực tế sáng tác tại Đèo Nai. Nhà thơ Trinh Đường đưa người đi thực tế tại Hòn Gai. Nhóm của nhà văn Nguyễn Dậu thực tế tại khu lò Lộ Trí (nay thuộc Công ty Than Thống Nhất). Mấy năm sau, nhà thơ Huy Cận xuất bản tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng, Nguyễn Dậu xuất bản Mở hầm, Tạ Hữu Yên xuất bản tiểu thuyết Lửa than. Nhà văn Trần Dần cũng trong nhóm ấy.

Nhạc sĩ Đỗ Hoà An là người có nhiều gắn bó và dành nhiều tâm huyết cho những sáng tác về ngành Than và người thợ mỏ.
Nhạc sĩ Đỗ Hoà An là người có nhiều gắn bó và dành nhiều tâm huyết cho những sáng tác về ngành Than và người thợ mỏ.

Đi cùng nhà thơ Huy Cận còn các hoạ sĩ Nguyễn Anh Thường, Hoàng Công Luận, Nguyễn Yên, Lưu Yên, Vũ Duy Nghĩa. Không ít họa sĩ khi đi thực tế sáng tác còn khích lệ, gây dựng phong trào sáng tác trong đội ngũ công nhân. Họ say sưa tổ chức những cuộc triển lãm tranh trên công trường dày đặc nắng gió, trong khu văn phòng, xưởng máy bụi bặm, chật chội. Họa sĩ Hoàng Công Luận gắn bó với phong trào, sáng tác nhiều chục năm về sau. Bức tranh tường hai chế độ Xưa và nay do các họa sĩ vẽ khi đó được lưu giữ trong ký ức người Cẩm Phả từ thời ấy đến tận bây giờ.

Tháng 4/1964, nhạc sĩ Đỗ Nhuận dẫn đầu một đoàn nhạc sĩ gồm Hoàng Vân, Phạm Tuyên, Trọng Bằng, Trần Quý, Chu Minh, Tân Huyền, Văn Dung… về Vùng mỏ thực tế sáng tác. Say mê với cảnh và người vùng than đang thi đua xây dựng chế độ mới, họ đã có những ca khúc đóng đinh trong các kỳ hội diễn ca nhạc Vùng mỏ nhiều năm về sau. Nhiều bài hát đã quen thuộc, thân thiết, trở thành những bài ca nằm trong danh mục đi cùng năm tháng của người thợ mỏ.

Không chỉ là giai đoạn chống Mỹ và xây dựng đất nước giai đoạn kế tiếp mà vai trò của ngành Than cũng như mảng đề tài gắn với ngành Than vẫn có tác động mạnh mẽ tới cảm hứng sáng tác của nhiều nghệ sĩ sau này. Nhạc sĩ Đỗ Hoà An từng chia sẻ: Thời ấy, nói về người thợ là liên quan đến những vấn đề của cuộc sống thường ngày rất lớn, ngành Than là ngành kinh tế trọng điểm của cả nước trong cả một giai đoạn dài như thế nên mọi người đều cuốn vào đó. Một nhạc sĩ như tôi thì việc đầu tiên là phải bám vào nhịp sống của vùng đất mình đến để sống, để sáng tác.

Đình công năm 1936 - tranh sơn dầu của họa sĩ Bùi Đình Lan.
Đình công năm 1936 - tranh sơn dầu của họa sĩ Bùi Đình Lan.

Sáng tác về ngành Than, về người thợ mỏ là nguồn đề tài không vơi cạn với các văn nghệ sĩ, trong đó có giới nhạc sĩ như ông. Ông bảo: Để có được những sáng tác văn học nghệ thuật về người thợ thì cần có cảm xúc, tài năng và cái duyên, tình yêu của mình gắn bó với vùng đất này thì mới hay được, mới cuốn hút được người nghe. Không phải là nghĩ về người thợ mỏ nữa mà là cả cuộc đời sống với vùng than, tôi lấy sự to lớn, hùng vĩ của những tầng than, lao động của những người thợ mỏ làm nguồn, trong đó có vui buồn, có những vất vả và cả niềm hạnh phúc của người thợ, dù là vào giai đoạn nào thì người công nhân vẫn mang niềm tự hào về sức mạnh cũng như sức sáng tạo, sự đồng tâm của người thợ mỏ.

Sự quan tâm tạo điều kiện của ngành Than

Nhiều người phải thừa nhận rằng, hiếm có ngành kinh tế nào ở nước ta lại sản sinh ra nhiều tài năng văn học nghệ thuật như ngành Than. Chia sẻ với báo chí, ông Đoàn Văn Kiển, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, từng nhận định: Khi thợ mỏ là văn nghệ sĩ, nghĩa là cái tầm văn hoá được nâng cao. Ngành Than đã nhìn ra quá trình "nghệ sĩ hóa" thợ mỏ và tạo chất xúc tác để cho quá trình đó diễn ra nhanh hơn, thuận lợi hơn. Ngược lại, các văn nghệ sĩ lại đưa hình ảnh đất và người Vùng mỏ hiện lên sinh động trong mỗi tác phẩm, tạo ra sự kết nối bền chặt, có giá trị to lớn phục vụ cuộc sống.

Các hội diễn nghệ thuật quần chúng được ngành Than quan tâm đầu tư lớn. Ảnh: Phạm Học
Các hội diễn nghệ thuật quần chúng được ngành Than quan tâm đầu tư lớn. Ảnh: Phạm Học

Qua tìm hiểu cho thấy, ngay từ năm 1979, Chi hội Văn học nghệ thuật Công ty Than Hòn Gai (tiền thân của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam hiện nay) ra đời và là chi hội văn học nghệ thuật đầu tiên của một đơn vị kinh tế trong cả nước. Năm 1995, ngành Than đã thành lập CLB Văn hoá công nhân. Một trong những sân chơi được ngành than quan tâm đầu tư lớn, đó là các hội diễn nghệ thuật quần chúng. Ấn tượng với những hội diễn này, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam, cho rằng, đây là cái nôi, là vườn ươm, là nơi tập hợp lực lượng rất đông đảo, tự giác, có tổ chức với hiệu quả nghệ thuật cao.

Cho đến nay, nhiều văn nghệ sĩ trong ngành Than đã nhận được những danh hiệu cao quý của tỉnh, của Trung ương với 1 nghệ sĩ nhân dân, 1 nghệ sĩ ưu tú, 50 nghệ sĩ Vùng mỏ. Đặc biệt, 2 nhà văn Võ Huy Tâm và Võ Khắc Nghiêm đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT. Với công sức, thành quả của mình, đội ngũ văn nghệ sĩ đã cho thấy vai trò quan trọng trong bề dày truyền thống của ngành Than. Nhiều tác phẩm của họ đã trở thành tài sản không chỉ riêng của người Quảng Ninh và ngành Than, mà còn là tài sản chung của văn học nghệ thuật cả nước. Các tác phẩm đã phản ánh sinh động, đa chiều và chân thực về đời sống người thợ mỏ và ngành Than, tô thắm truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” của người thợ mỏ, đóng góp vào sự phát triển chung của Quảng Ninh hôm qua và hôm nay.

Cùng chuyên mục