Nhìn từ tác động của du lịch

Với vẻ đẹp và những giá trị ngoại hạng toàn cầu, Vịnh Hạ Long đã và đang thu hút ngày càng nhiều khách du lịch từ khắp năm châu khi đến Việt Nam. Những năm qua, lượng khách du lịch đến Vịnh Hạ Long năm sau luôn cao hơn năm trước. Nếu như năm 2005, lượng khách đến Hạ Long mới đạt gần 1,8 triệu lượt thì chỉ riêng 3 tháng cuối năm 2011, Hạ Long đã đón 2,1 triệu lượt khách - hơn cả năm 2005 cộng lại. Dự báo, tới đây, con số này sẽ còn tăng hơn nữa.

Khách du lịch tăng, tạo ra nhiều việc làm cho lao động địa phương, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh, con người Quảng Ninh nói riêng, Việt Nam nói chung ra thế giới. Đó là nguồn tài nguyên vô cùng lớn mà Vịnh Hạ Long mang lại cho ngành công nghiệp không khói. Tuy nhiên, du lịch cũng gây ra những thách thức không nhỏ đối với công tác bảo tồn các giá trị của di sản, kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long. Làm thế nào để vừa phát huy được các giá trị của Vịnh Hạ Long, phục vụ phát triển du lịch, vừa bảo tồn được di sản theo những cam kết với UNESCO và hơn hết là gìn giữ “báu vật” cho thế hệ mai sau?

Khu vực hang Sửng Sốt là một trong những điểm có mật độ tàu du lịch đưa khách đến nhiều.
Khu vực hang Sửng Sốt là một trong những điểm có mật độ tàu du lịch đưa khách đến nhiều.
Chưa có cuộc khảo sát, đánh giá khoa học đầy đủ những tác động của hoạt động du lịch đối với Vịnh Hạ Long, nhưng bằng mắt thường vẫn không khó để nhận ra điều đó.

Tuy chưa có cuộc khảo sát, đánh giá khoa học đầy đủ những tác động của hoạt động du lịch đối với Vịnh Hạ Long, nhưng bằng mắt thường vẫn không khó để nhận ra điều đó. Hiện nay, tại một số điểm du lịch như Thiên Cung, Đầu Gỗ, Sửng Sốt… sự tập trung thường xuyên với mật độ cao của các tàu du lịch đã khiến cho môi trường sinh thái xung quanh bị ảnh hưởng. Chân vịt của các con tàu du lịch khuấy đục bùn, tác động tiêu cực đến hệ sinh thái đáy, nhất là san hô, cùng các loài động thực vật khác. Đó là chưa kể một lượng dầu từ nước malacanh của các con tàu, phương tiện vận chuyển khách, dịch vụ trên Vịnh, thoát ra làm ô nhiễm môi trường nước. Cho dù nhận thức, trách nhiệm của các chủ tàu du lịch, du khách đối với bảo vệ môi trường đã được nâng cao, cơ quan chức năng đã tăng cường quản lý thì một lượng nước thải, rác thải từ các phương tiện, khách du lịch xả ra môi trường Vịnh là khó tránh khỏi. Chưa kể các công trình, hạ tầng kinh doanh dịch vụ du lịch trên bờ cũng luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Vịnh từ nước, rác thải ra ngoài.

Những năm trước đây, đã có một số nhà khoa học băn khoăn về việc khai thác du lịch sẽ làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp tự nhiên của các hang động trên Vịnh Hạ Long. Cụ thể, khí cacbonic do du khách thở ra có thể làm mờ các thạch nhũ. Rồi việc xây dựng các công trình, lối đi cho du khách, đèn trang trí trong hang… sẽ tác động đến môi trường tự nhiên của hang động. Tiêu biểu như hang Hồ Động Tiên được coi như một “bảo tàng địa chất” của Vịnh Hạ Long. Đây là một hang kín, cấu trúc hang phản ánh quá trình hình thành hang động trên Vịnh; trong hang tối có các loại côn trùng, giáp xác sinh sống rất độc đáo. Cơ quan quản lý không đưa hang Hồ Động Tiên vào khai thác du lịch, mà chỉ dành cho các lớp chuyên về giáo dục môi trường Ecoboat. Tuy nhiên, dù là phục vụ công tác giáo dục, thì có một thực tế là sự có mặt với số lượng người đông trong hang đã tác động đến môi trường tự nhiên của hang và quá trình vận động tự nhiên của địa chất...

Nhìn sang Campuchia, từ khi Angkor được công nhận là di sản văn hoá thế giới, lượng khách du lịch đổ về tăng mạnh mỗi năm. Tuy nhiên, ngay khi có cảnh báo của UNESCO về Angkor có nguy cơ xuống cấp vì khách tham quan quá đông, ngành du lịch Campuchia ngay lập tức nghiên cứu và thực hiện biện pháp kiểm soát và hạn chế khách du lịch. Cơ quan quản lý quy định khách vào đền Angkor Wat chỉ được tối đa 300 khách mỗi lượt và thời gian tham quan tối đa là 2 giờ. Cùng với biện pháp trên, ngành du lịch Campuchia còn phát triển các khu du lịch phụ cận, ngoài mục đích khai thác tài nguyên du lịch còn nằm trong chủ trương giãn khách khỏi Angkor, hướng khách du lịch đến những sản phẩm du lịch khác để giảm sức ép cho di sản.

Đành rằng, Vịnh Hạ Long khác Angkor nhưng những tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên không hề nhỏ, thậm chí phức tạp hơn. Tuy nhiên, cách làm của người Campuchia rất đáng để chúng ta học tập, tham khảo. Sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh nhằm xây dựng hướng phát triển du lịch bền vững cho Vịnh Hạ Long. Rồi ý tưởng gắn nhãn sinh thái “Cánh buồm xanh” cho các con tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long mới đây là những động thái tích cực. Hy vọng rằng, môi trường Vịnh Hạ Long sẽ ngày càng được quan tâm hơn, để những giá trị và vẻ đẹp của nó được bảo tồn, lưu giữ tốt nhất cho thế hệ mai sau.

Đại Dương

Cùng chuyên mục