Nhớ một thời hào hùng...

Đến nay, chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, nhưng những kỷ niệm về một thời đạn lửa vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của những người lính trong đoàn quân tiến về giải phóng Sài Gòn năm xưa. Chúng tôi đã được gặp, được nghe các anh kể lại về những thời khắc hào hùng ấy của dân tộc.

Chiến sĩ biệt động Sài Gòn

Người đầu tiên chúng tôi gặp là Thiếu tướng Trần Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh, nguyên chiến sĩ Lữ đoàn 316 Biệt động thành, hoạt động chủ yếu ở khu vực Tây - Nam Sài Gòn năm xưa. Rót chén trà thơm mời khách, Thiếu tướng Thành vừa hồi tưởng, vừa chậm rãi kể lại cho tôi nghe những kỷ niệm không thể nào quên trong những ngày gian khổ, ác liệt mà hào hùng. Sinh ra và lớn lên tại xã Bình Dương (Đông Triều), đầu năm 1974, chàng trai Trần Thành vừa học xong lớp 10 thì cũng là lúc chiến trường miền Nam ngày càng trở nên ác liệt. Cùng với những người con ưu tú của quê hương Đông Triều, anh “xếp bút nghiên”, hăng hái lên đường nhập ngũ. Anh được biên chế vào Trung đoàn 34, Sư 338. Sau thời gian huấn luyện, đơn vị anh hành quân vào Nam theo hướng Tây Trường Sơn bằng phương tiện ô tô vận tải. Sau nhiều ngày hành quân, vào đến nơi, Trần Thành được biên chế vào Lữ đoàn Biệt động thành. Đây là đơn vị có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội địa phương và một bộ phận quân chủ lực đánh phá các mục tiêu ở khu vực Tây - Nam Sài Gòn. Đó là khu vực đồng bằng và đầm lầy, vì vậy, ban ngày anh và đồng đội phải ngụy trang nằm dầm mình dưới nước để địch không phát hiện, cắn răng chịu cho lũ côn trùng hút máu khắp người. Ban đêm đơn vị lại tổ chức tấn công địch. Trận đánh này nối tiếp trận đánh kia, lúc quần thảo với địch trên cánh đồng, lúc lại tác chiến trên sông, nên chẳng ai để ý đến ngày tháng. Hôm ấy, đơn vị anh đang cơ động đến khu vực Hóc Môn, Bà Điểm thì nghe tin chiến thắng. Lúc này, mọi người mới xem lịch, là ngày 30-4. Cả đơn vị ôm chầm lấy nhau, nước mắt nghẹn ngào, tiếc thương những đồng đội đã hy sinh, không được hưởng hạnh phúc trong phút giây toàn thắng. Năm 1977, Trần Thành được cử đi học  tại Trường sĩ quan Lục quân 2, đến năm 1981 mới có dịp quay trở ra miền Bắc và được điều về Quảng Ninh công tác. Năm 2004, anh được đề bạt làm Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh cho đến nay; tháng 7-2010 anh được phong quân hàm Thiếu tướng.

Thiếu tướng Trần Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh kiểm tra công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của LLVT địa phương.
Thiếu tướng Trần Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh kiểm tra công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của LLVT địa phương.

Lính đặc công Đồng Tháp Mười

Nhân chứng lịch sử thứ 2 chúng tôi gặp hiện cũng công tác ở Bộ CHQS tỉnh, là Đại tá, Phó Chính uỷ Nguyễn Hữu Ca. Quê ở Hải Dương, 16 tuổi rưỡi, Nguyễn Hữu Ca đã làm đơn đi bộ đội, rồi theo đoàn quân Nam tiến. Nơi đầu tiên anh đến là trận địa B470 thuộc khu vực Đồng Tháp Mười. Tuy tuổi còn ít, nhưng anh lại có vóc dáng to, cao, nên được điều về Tiểu đoàn 283 Đặc công (Quân khu 8). Đơn vị có nhiệm vụ đánh những hướng then chốt, trọng điểm. Mỗi khi muốn tấn công một đồn, bốt nào của giặc, do địa hình phức tạp, các anh phải bò sát vào mục tiêu và chờ lệnh, chỉ cần một sơ suất nhỏ, nếu địch phát hiện thì nguy cơ thương vong rất lớn. Đại tá Ca nhẩm tính, từ ngày vào chiến trường đến lúc hoàn toàn giải phóng, anh đã tham gia trên 20 trận lớn, nhỏ. Có trận đánh, do sự mưu trí, sáng tạo của các anh, đã giúp cho bộ binh xung phong, chưa đầy 5 phút đã diệt gọn nhiều tên địch, làm chủ được trận địa. Đến những ngày trung tuần tháng 4, khí thế chiến đấu của ta ngày càng tăng, đơn vị của anh được điều toả đi khắp nơi để ghép vào nhiều đơn vị khác nhau. Riêng anh thì theo một cánh quân tiến về khu vực Lộ 4 làm nhiệm vụ phục kích tiêu diệt xe cơ giới của địch tại khu vực Cai Lậy, Hoà Khánh, Long Định, Cái Bè... Đây là thời điểm gian khổ nhất, nhưng cũng là những giây phút hào hùng nhất. Anh kể, hôm ấy, ngay khi Tổng thống ngụy tuyên bố đầu hàng, anh và một số đồng đội băng ra đường. Đúng lúc ấy, có một chiếc xe Z.113 chở sĩ quan Ngụy chạy qua, anh liền chĩa súng lên trời bắn một loạt chỉ thiên. Tên tài xế mặt cắt không còn giọt máu lắp bắp “Dạ xin cán bộ cộng sản tha cho”. Anh quát to “Xuống xe, chúng tao trưng dụng chiếc xe này”. Bọn sĩ quan ngụy trên xe hớt hải nhảy xuống, hai tay ôm sau gáy. Ngay lập tức, anh cùng mấy đồng đội lên xe phóng về hướng phà Mỹ Thuận để phối hợp bảo vệ tuyến giao thông huyết mạch này. Sau ngày 30-4 lịch sử ấy, anh tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, rồi sang làm nghĩa vụ với nhân dân nước bạn Campuchia, mãi đến năm 1988 mới về nhận nhiệm vụ ở Quân khu 3...

Đại tá Nguyễn Hữu Ca, Phó Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh.
Đại tá Nguyễn Hữu Ca, Phó Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh.

Người đánh Dinh Độc Lập

Người cuối cùng mà chúng tôi tìm gặp là anh Phạm Tuấn Hùng, nguyên chiến sĩ xe tăng 910, Đại đội 3, Lữ đoàn 203, tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975; hiện ở phường Hồng Hải (TP Hạ Long). Cách đây trên 40 năm, Phạm Tuấn Hùng là sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Lâm nghiệp. Thời điểm ấy, chiến tranh ở miền Nam đang diễn ra ác liệt, giặc Mỹ lại âm mưu leo thang bắn phá miền Bắc. Cũng như nhiều sinh viên trong trường, Phạm Tuấn Hùng từ giã mái trường đại học, xung phong ra chiến trường. Anh được cử đi học lái xe tăng 6 tháng, sau đó được phân vào Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 tăng thiết giáp. Anh đã tham gia rất nhiều trận đánh, suốt từ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Nha Trang... Anh bảo, kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời lính của anh là được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Anh kể: “Tôi không thể nào quên, đó là thời khắc lịch sử trước ngày giải phóng. Khi đó tôi là trợ lý kỹ thuật thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203. Đúng 17 giờ ngày 29-4-1975, tôi cùng xe tăng 866 của đồng chí Lê Tiến Hùng, Trung đội trưởng, tham gia đánh căn cứ Nước Trong, Thủ Đức, Cam Bình... Cuộc chiến hết sức ác liệt trước cửa ngõ Sài Gòn. Cả ngày lẫn đêm 29-4, tiếng đạn bắn đinh tai nhức óc, pháo sáng rực trời. Nhiều đồng đội của tôi, trong đó có Tiểu đoàn trưởng Ngô Quang Nhỡ đã anh dũng hy sinh ngay cửa ngõ Sài Gòn khi đang trong tư thế chỉ huy. Các đồng chí bộ binh phối hợp cùng xe tăng 325, Sư 304 cùng trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn hy sinh gần hết.

Anh Phạm Tuấn Hùng chụp ảnh lưu niệm bên chiếc xe tăng 910 năm xưa đánh vào Dinh Độc Lập.
Anh Phạm Tuấn Hùng chụp ảnh lưu niệm bên chiếc xe tăng 910 năm xưa đánh vào Dinh Độc Lập.

Đại đội 3 chúng tôi là đơn vị được phong Anh hùng từ năm 1973 khi chiến đấu tại Cửa Việt, Đông Hà, Quảng Trị. Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại đội tôi được chọn đánh vào Dinh Độc Lập và được phân công cắm cờ trên phủ Tổng thống ngụy ở Sài Gòn. Toàn bộ các cờ cắm trên xe của Đại đội đều ghi rõ số xe và biệt danh đơn vị là “Gia Nghĩa”. Trước khi đánh vào Sài Gòn, chúng tôi đã được học sa bàn để thực hiện nhiệm vụ vẻ vang này. Khoảng 7 giờ sáng ngày 30-4, xe tăng 866 có Trung đội trưởng Lê Tiến Hùng và tôi đi đến phía đông chân cầu Sài Gòn, thấy rất nhiều xe tăng và xe bọc thép của địch xuất hiện. Đại đội 3 phân công xe tăng 866 đi đầu, tiến qua cầu Sài Gòn đánh vào Dinh Tổng thống. Đồng chí Hùng bảo tôi: “Cậu là trợ lý kỹ thuật phải xuống xe sau theo dõi, sửa chữa xe của cả đơn vị. Tớ đi xe đầu tiên có thể bị hy sinh. Nếu tớ có bị hy sinh, cậu nhớ bảo với vợ tớ ở Hạ Hoà (Phú Thọ) biết nhé!”. Tôi xuống đi cùng xe tăng 910 do đồng chí Giám, quê ở Thanh Hoá chỉ huy, đồng chí Thanh là lái xe, cùng 2 đồng chí pháo thủ, đi ngay sau xe của đồng chí Hùng. Đến giữa cầu Sài Gòn, xe của đồng chí Hùng bị pháo địch bắn vào cửa pháo 2, trên xe có 2 đồng chí bộ binh phối hợp đã hy sinh, 2 pháo thủ tên Hoà và Mỹ bị thương, được nhân dân đưa vào bệnh viện cấp cứu. Xe 910 tiếp tục đánh vào Sài Gòn. Xe số 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy (người cắm lá cờ lịch sử trên Dinh Độc Lập ít phút sau đó) vượt lên. Hơn 10 giờ ngày 30-4, xe của chúng tôi tiến vào Dinh Tổng thống. Chúng tôi chạy ngay lên gác 2 của Dinh để bắt Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và các thành viên nội các. Tiếp sau đó, tôi và một số đồng chí khác được giao nhiệm vụ cùng đồng chí Bùi Văn Tùng, Chính uỷ của Lữ đoàn xe tăng 203 áp giải Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh và chính đồng chí Tùng đã tham gia soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh đọc trước Đài phát thanh vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975. Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng, đất nước đã được thống nhất...”.

Quang Minh

Cùng chuyên mục