Niềm tự hào của thợ mỏ Mạo Khê

Bất kỳ ở hầm lò nào, “kỷ luật và đồng tâm” đều gắn kết đội ngũ thợ mỏ PX khai thác 4 Công ty Than Mạo Khê (TKV) để nhiều năm liên tục đạt danh hiệu “Năng suất kỷ lục ngành Than”. Mỗi năm, PX khai thác được từ 13-14 vạn tấn than, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. ở đó, có tấm gương quản đốc - Anh hùng Lao động Nguyễn Văn Tía, người đã 36 năm gắn bó với mỏ, là chủ nhân của nhiều tấm bằng “Lao động sáng tạo” mà phía sau mỗi tấm bằng đó là 1 kỳ tích đóng góp cho sự nghiệp phát triển ngành Than...

t

Chuyên gia hãng máy khoan TAMROCK hướng dẫn thợ lò phân xưởng Đá 5-80 sử dụng máy khoan tại đường lò Tây Bắc I.             
                                                             ảnh: Mạnh Hùng (CTV)

Năm 1971, anh Nguyễn Văn Tía rời vùng quê Nghĩa Hưng (Nam Định) ra làm công nhân ở Mỏ Mạo Khê (nay là Công ty Than Mạo Khê). Những ngày đầu tiên anh còn bỡ ngỡ đi theo đội thợ chống cuốc, kẻ gương, đào lò để khai lò chợ 56/3. Gương than, đường lò gắn bó với anh để 3 năm sau đó, anh đã trở thành công nhân cuốc lò bậc 4, rồi được đề bạt tổ trưởng sản xuất lò 56/3. Từ kinh nghiệm thực tế của người thợ mỏ cộng với ý chí dám nghĩ - dám làm, anh đã đưa phong trào thi đua lao động sản xuất của phân xưởng 56/3 dẫn đầu toàn mỏ. Chi đoàn thanh niên của PX nhiều năm liên tục được nhận cờ thi đua Nguyễn Văn Trỗi do Trung ương Đoàn trao tặng.

Còn nhớ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, khi đó, sản xuất của ngành Than bị thu hẹp, lương thợ mỏ rất thấp, hàng loạt thợ mỏ phải nghỉ theo chế độ. Lúc ấy, Nguyễn Văn Tía vừa được đề bạt Quản đốc Phân xưởng khai thác 4 (KT4) đang khai thác than ở lò vỉa 6 Bình Minh. Lò phân xưởng khai thác độc lập, bài toán lo đủ việc làm cho công nhân trong phân xưởng được đặt ra. Từ đó, phân xưởng đã đảm nhận khai thác các vỉa than còn lại tại khu vực Bình Minh-Tràng Khê 2, tiếp nhận thêm toàn bộ dây chuyền vận tải than từ khu vực khai thác đưa ra nhà sàng khu 56 rồi sắp xếp lao động hợp lý, đảm bảo công nhân có đủ việc làm ổn định. Năm 1996, Phân xưởng khai thác 4 lại được giao nhiệm vụ khai thác vỉa 9B Tây - 25 lên +30. Tại đây đường lò có độ dốc cao, điều kiện địa chất không ổn định, vỉa than kẹp đá và nguy hiểm hơn là trong lò luôn có lượng khí CH4 ở nồng độ cao. Để đảm bảo an toàn trong lò và phòng chống các nguy cơ sự cố tụt lò, Quản đốc Nguyễn Văn Tía là người đầu tiên đề xuất sáng kiến chống lò khấu càn tận thu các trụ than bảo vệ để nâng cao sản lượng than khai thác hàng ngày. Khi đường lò đi càng sâu thì biện pháp an toàn kỹ thuật trong khai thác càng phải được chú trọng đầu tư lớn. Từ cái khó ló cái khôn phân xưởng KT4 đề xuất ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất, đó là thay đổi công nghệ chống lò bằng dàn thuỷ lực đơn. Khi ứng dụng chống lò bằng dàn thuỷ lực đơn, đường lò được đảm bảo hơn so với chống vì gỗ và năng suất khai thác tăng cao.

- Kỷ niệm nhớ nhất với tôi đó là vụ cứu lò tháng 4 năm 2000 - Ngồi trong căn nhà khang trang của gia đình tại thôn Yên Sơn, xã Yên Thọ (Đông Triều) trước ngày anh lên Hà Nội tham gia chương trình giao lưu “Vinh Quang Việt Nam” tôn vinh Anh hùng - CSTĐ toàn quốc lần thứ V, Nguyễn Văn Tía kể: -Đó là sự cố lớn lò chợ bị tụt nước, lượng nước liên tục có từ 70-80 m3/h đổ xối xả xuống đường lò gây sập toàn bộ dàn chống thuỷ lực. Toàn mỏ huy động hết các phương tiện, thợ lò có tay nghề cao để cứu lò. Một mình tôi tự chui rúc vào khu vực lò bị sập đổ để xác định hiện trạng và tìm ra nguyên nhân để có biện pháp khắc phục. Khi các biện pháp kỹ thuật được triển khai thì cũng là lúc tôi tự mò mẫm trong lò đổ mà chỉ có đường từ dưới lên đến chỗ lò sập, phía trên thì tắc hoàn toàn. Nước từ nóc lò xối thẳng vào gương than, đưa lượng than trôi đọng xuống chân cột kéo dài đến 150m dưới lò chợ. 16 giờ liên tục trong lò, tôi dùng tay be bờ lái dòng nước chảy, không cho xối vào gương than. Ra ngoài, chỉ kịp ăn 1 chiếc bánh mỳ, tôi lại tiếp tục vào lò tìm tòi phương án, đó là xẻ các bạnh gỗ để thợ lò bậc cao đưa vào khu vực lò tụt, chặn các chân cột từ dưới lên để đưa đất, đá, than đã tụt xuống lò chợ vận chuyển ra ngoài nhằm củng cố lối đi lại tạm thời, tổ chức thông gió và giữ được ổn định thành lò chợ cũ. Trong 15 ngày đó, tôi tiên tục có mặt tại nơi sụt lò 15-16 giờ/ngày để vừa áp dụng biện pháp, vừa tổ chức chỉ đạo các đội thợ lò bậc cao khắc phục luồng nước chảy không ảnh hưởng đến thành lò chợ, tháo dỡ và thu hồi toàn bộ dàn chống thuỷ lực đã bị sập đổ trong lò trị giá trên 4 tỷ đồng. Ngay những ngày sau đó, đường lò vỉa 9B Tây -25 lên +30 lại tiếp tục ra than 150 tấn/ngày. Có những đợt cao điểm, phân xưởng đã khai thác được 600 tấn/ngày, đóng góp vào dòng suối than của Mạo Khê đi phục vụ CNH-HĐH đất nước.

Công ty Than Mạo Khê hiện nay đã bước vào năm sản xuất thứ 54. Từ những khai trường đầu tiên (tháng 10-1954) đến nay, Mạo Khê đã có công nghệ khai thác than lò giếng nghiêng hiện đại, khai thác ở mức -80 và đang đi mức -150, thợ mỏ luôn phải làm việc trong các đường lò có nồng độ khí CH4 cao, nguy cơ xảy ra cháy nổ lớn. Song ở hoàn cảnh, giai đoạn nào thợ mỏ Mạo Khê cũng luôn xuất hiện những tấm gương anh hùng. Từ người anh hùng đầu tiên Nguyễn Văn Vỡi (năm 1967) đến anh hùng Lều Vũ Điều (năm 1986) và hôm nay anh hùng Nguyễn Văn Tía (năm 2006) đã tiếp tục tô đậm thêm truyền thống của thợ mỏ Mạo Khê. 

Cùng chuyên mục