Phân đội Vùng mỏ - những người lính công an vũ trang Quảng Ninh ngày ấy

Cuối năm 1974, Bộ Công an giao cho Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) tuyển chọn một tiểu đoàn 400 quân chi viện cho Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam - Việt Nam. Quảng Ninh được giao nhiệm vụ tuyển chọn 38 chiến sĩ và 1 sĩ quan chỉ huy. Phân đội Công an nhân dân vũ trang Quảng Ninh được tuyển chọn chi viện cho chiến trường miền Nam ngày ấy được lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh trực tiếp gặp gỡ, giao nhiệm vụ.

Ông Nguyễn Quang Vinh bên Dinh Độc Lập, ngày 30-4-1975.
Ông Nguyễn Quang Vinh bên Dinh Độc Lập, ngày 30-4-1975.

Tại Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh (nay là Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh), ông Nguyễn Ngọc Đàm, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh, đã đến thăm, tặng quà, động viên và đặt tên phân đội là “Phân đội Vùng Mỏ” và trao cho Phân đội lá cờ mang dòng chữ: “Trung thành, anh dũng, đoàn kết, chiến thắng”. Các cán bộ, chiến sĩ Phân đội Vùng Mỏ đều là những thanh niên tuổi đời mười tám, đôi mươi. Tôi lúc đó là một sĩ quan trẻ của đơn vị được giao nhiệm vụ làm Phân đội trưởng (sau này được giao giữ chức vụ Chính trị viên phó Tiểu đoàn 18, gọi tắt là B18). Tiểu đoàn 18 vừa khẩn trương củng cố kiện toàn về tổ chức, biên chế, vừa phải tập trung huấn luyện cấp tốc... Ngày học tập, đêm tập hành quân đến tận 11, 12 giờ đêm. Thời gian ấy, chúng tôi được đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đồng chí Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch Liên minh các lực lượng hoà bình, trung lập miền Nam đến thăm hỏi, nói chuyện, trao cho chúng tôi lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và nhiều đồng chí lãnh đạo cấp trên về gặp gỡ, động viên, giao nhiệm vụ. Mọi người đều nung nấu quyết tâm: “Đã đi là đến, đã chiến đấu là chiến thắng”, nguyện xứng đáng là những người con của quê hương Vùng mỏ anh hùng.

Sau 6 ngày đêm hành quân, chúng tôi vào đến Vĩnh Linh, Vĩ tuyến 17. Cầu Hiền Lương đã bị bom Mỹ đánh sập, sông Bến Hải trở thành trận tuyến giữa ta và địch. Phía trước chúng tôi những trận pháo địch bắn chặn đường; phía bên kia là những căn cứ quân sự của quân ngụy khét tiếng gian ác. Tiết trời Vĩnh Linh se se lạnh, chất chồng hố bom đạn giặc, nồng nặc khói thuốc đạn bom. Sau bữa cơm chiều, tôi và Nguyễn Hồng Minh (nhà ở thị trấn Mạo Khê, Đông Triều), trợ lý công tác thanh niên của Tiểu đoàn, xuống các đại đội nắm tình hình tư tưởng và động viên bộ đội sẵn sàng vượt sông Bến Hải, hành quân theo đường số 9 vòng sang Nam Lào trước khi trời sáng. 18 giờ 25 phút, cả đơn vị xuất phát, hành quân theo đường hào phía bắc sông Bến Hải. Tôi còn nhớ có 2 cô dân quân Vĩnh Linh dày dạn bom đạn, đưa chúng tôi đến bờ sông Bến Hải và câu chào chia tay: “Chào nhé, hẹn gặp lại!”.

Vượt sông Bến Hải an toàn, đúng kế hoạch, 2 chiến sĩ giao liên Đoàn 559 dẫn đường chờ sẵn đón chúng tôi vượt qua tầm pháo địch, dọc theo đường số 9 và về đến Nam Lào thì trời tảng sáng. Chúng tôi được lệnh dừng chân, trú quân, bắt tay ngay vào đào hầm, công sự chiến đấu, phòng tránh pháo kích và máy bay địch đến đánh phá. Các chiến sĩ nuôi quân của các đại đội và cơ quan Tiểu đoàn bộ đào bếp Hoàng Cầm nấu cơm. Binh trạm tiền phương thông báo tình hình địch, ta khu vực dừng chân của Tiểu đoàn, tình hình chiến sự trên chiến trường. Trợ lý chính trị phụ trách Tuyên huấn Tiểu đoàn Nguyễn Đức Chẩm thì cặm cụi ghi chép tổng hợp tình hình thời sự thông báo cho các đơn vị.

Sau một ngày, một đêm ở đó, đoàn xe của Trung đoàn vận tải 32 (Đoàn 559) đưa chúng tôi vượt qua những cánh rừng trên đất bạn Lào. Đêm hành quân, ngày dừng chân trú tại các Binh trạm. Các lực lượng ra mặt trận hối hả gặp nhau, tìm đồng hương, tìm bạn bè trên chiến trường, tìm rau rừng… Tôi nhớ, do chưa có kinh nghiệm, có lần ở Trung đội 2 (Đại đội 3), nhiều anh em bị ngộ độc phải đi cấp cứu. Trung đội phải dừng hành quân bổ sung cho lực lượng An ninh vũ trang tỉnh Quảng - Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng). Toàn Tiểu đoàn tiếp tục hành quân...

Vượt qua Dốc Nứa, Nam Lào về đến Tây Nguyên, từ tỉnh Kon Tum đến Gia Lai, đã thấy không khí nhộn nhịp của các đơn vị bộ binh, cơ giới, pháo binh, xe tăng của ta bí mật tập kết. Các đơn vị công binh cắt các gốc cây to hai người ôm, không để cây đổ, chờ lệnh... 5 giờ sáng ngày 10-3-1975, các trận địa pháo của ta bắn dữ dội vào các căn cứ quân sự của quân địch trên tuyến phòng thủ Tây Nguyên. Sau đó là các đơn vị xe tăng, bộ binh tiến công, giành giật với địch trên từng chiến hào. Đây là trận đánh mở đầu, qua 3 ngày đêm chiến đấu ngoan cường, các cánh quân của ta đánh chiếm gần hết các mục tiêu quan trọng của quân ngụy Sài Gòn trên địa bàn Tây Nguyên. Quân ta bao vây, truy quét quân địch về đến Buôn Ma Thuột. Đến 13 tháng 3, ta giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, cục diện trên chiến trường miền Nam hoàn toàn thay đổi, có lợi cho ta, thời cơ giải phóng miền Nam đến gần...

Sau những ngày tham gia giải phóng Tây Nguyên, Tiểu đoàn 18 chúng tôi được lệnh chốt giữ bảo vệ cầu Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột để hỗ trợ các cánh quân của bộ đội chủ lực tiến xuống đồng bằng Trung Bộ và Nam Bộ. Tiểu đoàn được lệnh chọn 30 cán bộ, chiến sĩ cải trang trà trộn vào vùng địch hậu làm nhiệm vụ binh địch vận... Sau đó đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân theo đường 14 về Đồng Xoài, tỉnh Phước Long.

Trên khắp chiến trường diễn biến mau lẹ, cơ quan Trung ương Cục, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam và Bộ Tư lệnh Miền liên tục di chuyển để bám sát mặt trận; các binh đoàn chủ lực của ta đã bao vây chặt Sài Gòn - Gia Định, dinh luỹ cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Ngày 26-4-1975, trận đánh mở đầu của các cánh quân của ta tấn công vào Sài Gòn - Gia Định. Tiểu đoàn 18 được lệnh hành quân thần tốc tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Và trong ngày 30-4, Tiểu đoàn 18 tham gia chiếm lĩnh, chốt giữ, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu tại thành phố Sài Gòn - Gia Định, trong đó có Toà   Đại sứ Mỹ, Tổng Nha Cảnh sát Sài Gòn, Sân bay Tân Sơn Nhất, bảo vệ Dinh Độc lập, Đài Phát thanh - Truyền hình, Toà soạn báo Sài Gòn, Nhà máy điện Thủ Đức, bảo vệ Uỷ ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định. Một vài nơi khi lực lượng của ta đến địch vẫn còn ngoan cố chống cự và bị các chiến sĩ An ninh vũ trang giải phóng tiêu diệt.

Nhớ lại những ngày lịch sử cách đây đã tròn 40 năm, những người lính trong Phân đội Vùng mỏ ngày ấy vẫn luôn tự hào vì mình đã làm tròn lời hứa lúc ra đi: “Đã đi là đến, đã đánh là thắng”.

(Đại tá Nguyễn Quang Vinh, nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 18,

Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, kể, Phạm Học ghi)

Cùng chuyên mục