Ngày 30/10/1963, Quảng Ninh chính thức được thành lập trên cơ sở hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, mở ra một chặng đường phát triển mới trên vùng đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc. Qua 63 năm xây dựng và trưởng thành, truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” đã trở thành nguồn sức mạnh để các thế hệ người Quảng Ninh vượt qua khó khăn, đổi mới tư duy, khai thác tiềm năng và tạo dựng những thành tựu quan trọng. Việc thành lập thành phố Quảng Ninh từ ngày 1/9/2026 là kết tinh của hành trình 63 năm xây dựng, phát triển, của ý chí, bản lĩnh và khát vọng vươn lên qua nhiều thế hệ, đồng thời mở ra chặng đường mới với tầm vóc, vị thế và yêu cầu phát triển cao hơn.
Tự hào truyền thống Vùng mỏ
Quảng Ninh là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước. Trên dòng sông Bạch Đằng, cha ông ta ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của phương Bắc, làm nên những chiến công có ý nghĩa quyết định đối với lịch sử dân tộc. Thương cảng Vân Đồn từng là đầu mối giao thương quan trọng của Đại Việt. Yên Tử là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, hình thành một dòng thiền mang đậm tinh thần nhập thế và bản sắc văn hóa Việt Nam. Những lớp trầm tích lịch sử ấy tạo nên chiều sâu văn hóa và bản lĩnh của vùng đất Đông Bắc.
Trong tiến trình lịch sử hiện đại, truyền thống của Quảng Ninh được bồi đắp mạnh mẽ bởi phong trào đấu tranh của công nhân mỏ. Cuộc tổng bãi công của hơn ba vạn thợ mỏ tháng 11/1936 trở thành dấu mốc tiêu biểu của phong trào công nhân Việt Nam, khẳng định sức mạnh đoàn kết, ý chí đấu tranh và tinh thần làm chủ của người lao động. “Kỷ luật và Đồng tâm” từ đó trở thành giá trị cốt lõi của Vùng mỏ, được các thế hệ kế tiếp gìn giữ và phát huy trong lao động sản xuất, chiến đấu và xây dựng quê hương.
Trong Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, quân và dân Quảng Ninh vừa chiến đấu, vừa bảo vệ cơ sở sản xuất, giữ vững Vùng mỏ, bến cảng, tuyến biên giới và biển đảo. Những năm tháng bom đạn, gian khó không làm ngừng dòng than, không khuất phục ý chí của người dân nơi địa đầu Đông Bắc. Truyền thống ấy đã trở thành điểm tựa tinh thần để Quảng Ninh khôi phục sản xuất, xây dựng hạ tầng và ổn định đời sống sau chiến tranh.
Ngày 30/10/1963, Quốc hội thông qua nghị quyết hợp nhất khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, lấy tên là tỉnh Quảng Ninh. Tên gọi mới được hình thành theo gợi ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gửi gắm ý nghĩa về một vùng đất rộng lớn, yên bình. Từ dấu mốc đó, các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân đã cùng nhau xây dựng Quảng Ninh thành địa bàn có vai trò quan trọng về công nghiệp, năng lượng, kinh tế biển, cửa khẩu và quốc phòng, an ninh.
Trong những năm đầu sau ngày thành lập, nhiệm vụ đặt ra là khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, phát triển giao thông và các công trình dân sinh. Những tuyến đường, cây cầu, hồ chứa nước, bệnh viện, nhà máy và bến cảng lần lượt được xây dựng, tạo điều kiện cho sản xuất và đời sống. Ngành Than giữ vai trò trụ cột trong nền kinh tế, cung cấp nguồn năng lượng phục vụ công cuộc xây dựng đất nước, đồng thời tạo việc làm và hình thành những đô thị công nghiệp đặc trưng của Vùng mỏ.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Quảng Ninh chủ động tìm hướng phát triển phù hợp với lợi thế và yêu cầu mới. Hạ Long trở thành trung tâm du lịch, dịch vụ; các khu kinh tế, khu công nghiệp và cửa khẩu được đầu tư; hệ thống giao thông kết nối nội vùng và liên vùng từng bước hoàn thiện. Việc UNESCO ghi danh vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới năm 1994 tạo thêm động lực phát triển du lịch, mở rộng giao lưu quốc tế và nâng cao vị thế của địa phương.
Qua các giai đoạn, Quảng Ninh từng bước mở rộng không gian đô thị, hình thành những cực phát triển mới, kết nối miền núi, biên giới, biển đảo với các trung tâm kinh tế. Việc thành lập thành phố Đông Triều năm 2024 và sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã tiếp tục đặt ra yêu cầu tổ chức không gian phát triển hợp lý, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tốt hơn nguồn lực. Năm 2025, Quảng Ninh cũng là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp với 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 30 phường, 22 xã và 2 đặc khu Vân Đồn, Cô Tô.
Điều làm nên dấu ấn của Quảng Ninh trong hành trình ấy là tinh thần dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và quyết tâm giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” không chỉ được nhắc lại trong những dịp kỷ niệm, mà còn thể hiện trong cách địa phương huy động nguồn lực, tháo gỡ khó khăn, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển và tạo sự đồng thuận trong nhân dân.
Ngày 1/9/2026, thành phố Quảng Ninh chính thức được thành lập theo Nghị quyết số 36/2026/QH16 của Quốc hội. Với diện tích tự nhiên 6.231,27km², dân số 1.523.400 người và 54 đơn vị hành chính cấp xã, Quảng Ninh bước vào giai đoạn phát triển với vị thế và yêu cầu mới.
Tại lễ công bố nghị quyết ngày 28/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Từ khi tỉnh Quảng Ninh được thành lập năm 1963, các thế hệ cán bộ và nhân dân đã chung sức biến một vùng đất chịu nhiều tàn phá của chiến tranh thành một địa bàn năng động. Trong thời kỳ đổi mới, Quảng Ninh tiếp tục đi đầu trong đổi mới tư duy và phương thức phát triển. Hạ tầng giao thông có bước tiến mạnh. Không gian đô thị được mở rộng. Du lịch, dịch vụ, công nghiệp, kinh tế cửa khẩu và kinh tế biển ngày càng phát triển. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới, biển, đảo được giữ vững. Những thành tựu đó không tự nhiên mà có. Đó là kết quả của một Đảng bộ biết đổi mới. Một chính quyền dám hành động. Một đội ngũ cán bộ biết vượt khó. Một cộng đồng doanh nghiệp giàu khát vọng. Và trên hết, là sức mạnh đồng lòng của nhân dân các dân tộc thành phố Quảng Ninh”.
Tạo động lực phát triển mới
Sau 63 năm xây dựng và phát triển, Quảng Ninh đã hình thành nền kinh tế có quy mô lớn, cơ cấu ngày càng đa dạng, hệ thống hạ tầng giao thông có tính kết nối cao và nhiều ngành kinh tế có sức cạnh tranh. Trong sự phát triển của đất nước hôm nay, Quảng Ninh giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đây là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Là cửa ngõ kết nối Việt Nam với Trung Quốc và thế giới. Là điểm giao thoa của các hành lang kinh tế, các tuyến giao thông, các chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phát huy những lợi thế về vị trí địa chiến lược, tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng giao thông và truyền thống đổi mới, Quảng Ninh từng bước khẳng định vai trò là một cực tăng trưởng quan trọng của vùng Bắc Bộ, đóng góp tích cực vào liên kết vùng và hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2025, GRDP tăng 11,89%, quy mô nền kinh tế đạt 368.445 tỷ đồng; thu ngân sách nhà nước đạt 85.909 tỷ đồng. Du lịch đón hơn 21,28 triệu lượt khách, trong đó có 4,5 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu vượt 57.000 tỷ đồng. Những kết quả này cho thấy sức bật của nền kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ, đồng thời tạo thêm nguồn lực để đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ công và cải thiện đời sống nhân dân.
Đặc biệt, trong 9 tháng năm 2026, GRDP của thành phố tăng 12,54%, đứng đầu cả nước; riêng quý III tăng 15,04%. Du lịch đón khoảng 18,8 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 4,21 triệu lượt, tổng doanh thu ước đạt 56.400 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 80.327 tỷ đồng. Thành phố tập trung tháo gỡ vướng mắc cho các dự án chậm tiến độ, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo và phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm trên 13%.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, du lịch tiếp tục khẳng định vị thế ngành kinh tế quan trọng của Quảng Ninh. Vịnh Hạ Long, quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, các di tích lịch sử, văn hóa cùng hệ thống biển đảo, cửa khẩu tạo nên nguồn tài nguyên đa dạng để thành phố phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa, tâm linh, sinh thái và trải nghiệm. Quảng Ninh chủ động mở rộng không gian du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển sản phẩm bốn mùa, tăng cường kết nối các điểm đến, từng bước khai thác hiệu quả lợi thế của từng khu vực. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Ninh, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân và mở rộng dư địa tăng trưởng của ngành dịch vụ.
Cùng với đó, các giá trị văn hóa truyền thống và bản sắc con người Vùng mỏ tiếp tục được gìn giữ, bồi đắp trong quá trình phát triển. Thành phố quan tâm bảo tồn di sản, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc, nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao ở cơ sở, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và nếp sống văn minh. Các di sản như vịnh Hạ Long, Yên Tử, những địa danh gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng và truyền thống công nhân mỏ không chỉ tạo nên bản sắc riêng của vùng đất, mà còn góp phần giáo dục truyền thống, khơi dậy niềm tự hào và trách nhiệm của các thế hệ trong xây dựng quê hương.
Song song với phát triển kinh tế, Quảng Ninh luôn quan tâm phát triển văn hóa, con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo cuộc sống của nhân dân ngày càng tốt hơn. Thành phố ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, chăm lo các đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn. Người dân ngày càng được thụ hưởng tốt hơn những thành quả phát triển, có thêm điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe, ổn định cuộc sống và vươn lên.
Điển hình như trong giáo dục, Quảng Ninh dành nguồn lực lớn để giảm chi phí học tập cho gia đình, nâng cao chất lượng dạy và học, thu hẹp chênh lệch giữa khu vực đô thị với miền núi, biên giới và hải đảo. Thành phố triển khai các chính sách hỗ trợ học phí, sách giáo khoa, sữa học đường, bữa ăn và điều kiện học tập cho học sinh, nhất là trẻ em ở địa bàn khó khăn. Riêng các chính sách đặc thù trong lĩnh vực giáo dục được bố trí kinh phí gần 800 tỷ đồng mỗi năm, trong đó kinh phí hỗ trợ sách giáo khoa gần 62 tỷ đồng.
Trong lĩnh vực y tế, thành phố tiếp tục củng cố mạng lưới khám, chữa bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe. Chính sách bảo hiểm y tế được triển khai cùng các hình thức hỗ trợ dành cho những nhóm người dân thuộc diện thụ hưởng theo quy định. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, y tế dự phòng và quản lý sức khỏe cộng đồng được chú trọng, nhất là ở các địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, nơi người dân còn gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ y tế chuyên sâu.
Cùng với giáo dục và y tế, Quảng Ninh tiếp tục thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, chăm lo người có công, người cao tuổi, người khuyết tật và các hộ có hoàn cảnh khó khăn; gắn hỗ trợ trước mắt với tạo việc làm, đào tạo nghề và giảm nghèo bền vững. Đến cuối năm 2023, Quảng Ninh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia. Năm 2024, địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, với 91/91 xã đạt chuẩn, trong đó 54 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
Đến Quảng Ninh hôm nay, từ miền núi, biên giới, hải đảo đến đô thị, diện mạo quê hương ngày càng đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên. Hạ tầng giao thông, trường học, cơ sở y tế và các thiết chế văn hóa được đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước mở rộng ứng dụng trong quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống. Những chuyển biến ấy cho thấy thành quả phát triển không chỉ thể hiện qua các chỉ số tăng trưởng, mà còn hiện hữu trong điều kiện sống và cơ hội phát triển của người dân ở từng vùng miền.
Sau 63 năm xây dựng và phát triển, bước vào chặng đường mới với vị thế thành phố, Quảng Ninh đứng trước yêu cầu tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” tiếp tục là sức mạnh để Đảng bộ, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân chung sức xây dựng Quảng Ninh phát triển hiện đại, bền vững, xứng đáng với vị thế và kỳ vọng trong giai đoạn phát triển mới.