Số phận

Giữa Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tôi bị thương phải ra Bắc điều trị.

Hai tháng sau về đoàn an dưỡng Quân khu Tả Ngạn. Không hiểu bằng cách nào Giảng biết địa chỉ, lò dò tìm đến. Ôm chầm lấy tôi Giảng nói rằng, nhờ anh mà em thoát chết! Thầy u bắt em phải tìm anh  để hậu tạ. Cả gia tộc đều thọ ơn anh! Rồi Giảng trân trọng đưa cho tôi gói quà.

- Cũng chỉ là mấy thứ tạp nham! Sâm Cao Ly, đường, sữa, thuốc lá! Nếu anh  mà từ chối em sẽ ân hận suốt đời.

Tôi tròn mắt ngạc nhiên! Chẳng hiểu mình đã cứu Giảng như thế nào?

Ngồi xuống cạnh tôi Giảng xúc động bảo, chính anh là người đề nghị thủ trưởng cho em theo xe chở thương binh từ Xê Pôn về bệnh xá binh trạm. Thật ra hôm ấy em chỉ sốt nhẹ, uống viên thuốc là khỏi ngay. Lúc máy bay đánh bom, xe bị lật úp rồi bốc cháy, anh với Bường đã lao vào đưa em cùng nhiều người khác ra ngoài. Mà cũng chỉ vì cứu bọn em nên anh mới bị thương.  Còn Bường thì hy sinh...

Sau khi anh đi viện, em lạc đơn vị, buộc phải ra Bắc, vào trạm thu dung. Bây giờ thành kẻ bơ vơ, bị quy tội bỏ ngũ, bê quay! Nhục nhã lắm! Hôm  nay gặp anh, trước là để tạ ơn, sau nữa là nhờ anh viết giấy chứng nhận ở cùng đơn vị đi chiến trường. Em phải có giấy của anh mới thoát tội bỏ ngũ!

Thì ra là thế! Chẳng hề đắn đo, tôi viết ngay giấy chứng nhận, rồi xin dấu của đoàn an dưỡng, giao lại cho Giảng.       

Chuyện chỉ có thế. Vậy mà sau này Giảng vẫn tỏ vẻ hàm ơn. Gọi tôi là ân nhân cứu mạng! Là quý nhân phù trợ!

Hơn mười năm sống trong quân ngũ, tôi đã qua nhiều đơn vị. Bạn bè đồng đội gặp gỡ rồi chia ly. Nhưng Giảng là trường hợp đặc biệt, giống như duyên nợ.

Trong sâu thẳm tâm hồn mỗi con người luôn là một ẩn số vô cùng  phức tạp khó phân định trắng đen ngay cả khi phải đối mặt đong đếm giữa sự sống và cái chết. Chiến tranh đã qua đi nhưng câu chuyện về số phận con người trong chiến tranh thì mãi mãi không thể nào quên...
(Nhà văn Dương Hướng giới thiệu)

Năm sáu tám, đại đội tôi làm nhiệm vụ bảo vệ  ngã ba Thình Thình. Đó là những năm tháng gian khổ, ác liệt. Đơn vị thương vong nhiều. Trong một đợt bổ sung tân binh, khẩu đội tôi được biên chế hai chiến sĩ mới quê Thái Bình. Bường là thanh niên nông thôn chưa học hết cấp hai. Còn Giảng là sinh viên văn khoa, nhà ở thị xã. Có lẽ vì thế mà Giảng rất khó hoà nhập với các chiến sĩ cùng khẩu đội, phần lớn mới học cấp một, xuất thân vùng biển, quen nghề chài lưới.

Giảng thường gần gũi với tôi, gọi là thủ trưởng, xưng em, cho dù chúng tôi bằng tuổi nhau. Mà chức vụ của tôi cũng chỉ là khẩu đội phó, dưới cả anh khẩu đội trưởng đầu binh, cuối cán.

Dẫu được tin yêu quý mến tôi vẫn ngần ngại khi chuyện trò với Giảng. Có thể do tính cách khác nhau. Giảng  nói năng văn hoa bài bản. Đôi khi lễ độ thái quá, khiến tôi cảm thấy giả tạo. Đó chỉ là cảm giác, chứ thực ra Giảng chưa hề dối trá bao giờ.    
 
Những ngày bom đạn ác liệt, Giảng ăn ngủ luôn trong hầm pháo. Giảng nói riêng với tôi rằng, sợ máy bay địch bất ngờ lao vào đánh bom toạ độ. Đã có lần đơn vị bạn trúng bom giữa giờ ăn cơm chiều, thương vong gần hết...

Cuối năm bảy mươi tiểu đoàn tôi chuẩn bị nhận nhiệm vụ đi bê hai. Một buổi tối Giảng  gặp riêng tôi buồn rầu tâm sự, bố là trưởng tộc, chỉ có hai con trai. Anh trai vào Nam từ bốn năm trước, hiện chưa có tin tức gì. Nếu em tiếp tục đi chiến trường miền Nam, bố em khó sống nổi. Mấy ngày nay em suy nghĩ ghê lắm!

Biết Giảng hoang mang, nhưng tôi chỉ im lặng thở dài.

Nhưng Giảng vẫn cùng đơn vị hành quân vượt Trường Sơn...

Từ ngày rời đoàn an dưỡng, tôi không biết tin gì về Giảng nữa.

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoà bình thống nhất. Tôi chuyển ngành về Hà Nội học.

Bất ngờ Giảng xuất hiện. Anh hào hứng kể, năm bảy sáu ra quân với quân hàm thiếu uý. Phục viên về quê để gần vợ con. Nhưng đời sống quá khó khăn, xin trở lại đơn vị cũ làm kinh tế ở thành phố dầu khí phía nam. Rồi chuyển toàn bộ gia đình vào định cư ở đó. Giảng không quên nhắc lại ơn xưa. Nài nỉ mời tôi, có dịp vào chơi  thăm gia đình anh.     

…Gần chục năm sau, nghe lời khuyên của người bạn cùng học, tôi quyết định đưa vợ con vào vùng đất phương nam. Không ngờ ở đây tôi gặp lại Giảng. Hôm tôi đến thăm nhà, Giảng rối rít gọi vợ con ra chào. Anh hoan hỉ bảo, hôm nay phải ở lại ăn bữa cơm mừng ngày hội ngộ! Nói rồi anh kéo tôi đi ngắm toàn bộ khung cảnh căn nhà cấp bốn mới mua, giá năm chỉ vàng. Với cánh công chức hành chính ngày ấy thì căn nhà thật tuyệt vời. Giảng chỉ xuống bãi biển gần đó bảo, vài ba ngày lại có một đợt tàu ghe đánh cá trở về. Sở dĩ mình ham mua căn nhà này là vì thế.

Giảng có vẻ tự tin hơn. Không xưng hô anh anh em em như trước nữa. Anh say sưa bảo, thời buổi thóc cao gạo kém, đồng lương chẳng đủ cho vợ con ăn quà sáng! Cần phải năng động! Tự cứu mình trước khi trời cứu! Rồi anh kể, đang làm  cung ứng thực phẩm cho giàn khoan của xí nghiệp khai thác dầu khí. Mỗi tháng cưỡi trực thăng đi biển vài ngày. Thời gian còn lại ở đất liền  giúp bà xã mở cửa hàng tạp hoá, kiêm các dịch vụ cung ứng vật dụng, nhu yếu phẩm cho tàu ghe đánh cá xa bờ. Khoản thu nhập này lớn hơn tiền lương nhiều lần! Giảng cất tiếng cười khà khà đầy vẻ mãn nguyện.

Thấy gia đình tôi sống eo hẹp, Giảng thương hại bảo, những người như ông người ta gọi là ngu lâu! Thời buổi kinh tế thị trường cần phải đổi mới tư duy! Năng động, sáng tạo! Rồi anh kéo tôi lên xe máy chở đi thăm thú thành phố. Anh giải thích rằng, xem người ta làm ăn  để mà tìm cách đổi đời.

Giảng đưa tôi dạo khắp các đường phố chính. Về tới nhà cơm rượu đã dọn sẵn. Đồ nhậu hầu hết là hải sản tươi sống như cua, ghẹ, mực, tôm… Ăn uống ê hề. Suốt bữa, Giảng nhắc về kỷ niệm Trường Sơn. Về bạn bè chiến hữu năm xưa. Không thể nào quên cái đêm quân dù đổ bộ xuống Đường 9. Thật khủng khiếp! Cứ nửa giờ hứng một loạt bom B52 trải thảm. Gần sáng thêm ba trái bom mười tấn. Cách chục cây số mà đất dưới chân cứ ầm ầm chuyển động. Cậu Ngọc, cậu Chấn hy sinh đêm ấy… Không thể ngờ lại có ngày bọn mình cùng ngồi nhậu ở đây, giữa  thành phố biển giàu đẹp nổi tiếng ở phương nam như thế này!      

Sau bữa nhậu hôm ấy, Giảng  còn đến căn hộ tập thể của tôi vài lần. Nhưng do cuộc mưu sinh bận rộn nhọc nhằn nên chúng tôi cũng ít gặp nhau.

Ngoảnh đi ngoảnh lại đã ngót mấy chục năm, với bao sự đổi thay. Người lên voi. Kẻ xuống chó. Xí nghiệp dầu khí tăng lương gấp chục lần. Giảng đã được hưởng  lương tính bằng đô, giống như dân ngoại quốc. Việc kinh doanh tại nhà cũng thăng tiến phát đạt.

Từng là bạn chiến đấu, nhưng bây giờ Giảng thuộc tầng lớp quý tộc, nhà lầu xe hơi, tiện nghi hiện đại. Qua lại thăm nom, sợ mang tiếng là thấy người sang bắt quàng làm họ! Ấy là tôi hay nghĩ lẩn thẩn như thế chứ bạn bè đâu nỡ quay lưng.

Nhân dịp kỷ niệm ngày Ba mươi Tháng tư, Giảng đứng ra tổ chức họp mặt bạn chiến đấu năm xưa.  Anh tự lái chiếc xe con mới mua đón tôi tận nhà. Nháy mắt bảo, tới nhà hàng đặc sản ven biển. Các chiến hữu đang ở đó.   

Lúc tôi đến nơi đã có hai người chờ. Giảng đưa tay kiểu cách giới thiệu, anh Lê Hồi! Bạn chiến đấu trong chiến dịch tiến về Sài Gòn năm bảy nhăm. Bây giờ làm giám đốc một doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở tỉnh bên.

Lê Hồi ngại nhấc chiếc bụng phệ lên khỏi mặt ghế, ngồi như ông phỗng, nắm tay tôi lắc lắc bảo, Giảng đã từng kể về  ông!

Chìa tay về phía người gầy nhẳng ngồi cạnh, Giảng giới thiệu, còn ông này là Trần Đoàn, nguyên phóng viên mặt trận. Nhà báo tầm cỡ! Nhờ bức ảnh của ông ấy mà mình trở nên nổi tiếng đấy!

Rồi Giảng tiếp tục giới thiệu tôi:

- Anh Bình là ân nhân cứu mạng! Suốt đời tôi phải đội ơn!

Trần Đoàn gật gật đầu tỏ vẻ tán thưởng.

Giảng vẫy tay gọi em tiếp viên váy ngắn chân dài cười cười bảo, hôm nay các em không phải tận tình! Cứ ngồi đó, cần gì bọn anh kêu. Chiến hữu họp mặt ôn lại truyền thống, chuyện trò là chính!

Giảng cầm thực đơn nhìn lướt qua.

- Súp yến này! Chả rắn này! Ba ba hấp này...

Lê Hồi bảo, nên nhậu vài món đặc sản thôi. Rượu thì chỉ một thứ Martin! Chiến hữu phải đồng cam cộng khổ chứ!

Trần Đoàn chắp tay vái dài, quân lệnh như sơn, xin chấp hành tuyệt đối!

Mọi người đều tỏ ra hào hứng cởi mở. Không hiểu sao tôi lại cảm thấy cô đơn lạc lõng?

Chúng tôi là những người từ chiến tranh đi ra. Thoắt cái đã hơn một phần ba thế kỷ. Mỗi người mỗi phận. Nhiều người thành đạt. Nhưng tôi biết còn rất nhiều đồng đội  đang sống chật vật đói nghèo chốn đồng quê.

Lê Hồi bảo, phải nâng cốc chúc mừng chiến tích của những người đồng đội. Trăm phần trăm! Không ai được phép bê quay!

Vẫn là những ngôn từ thuở xưa, nhưng nghe thật khôi hài. Rượu vào bao tử. Rượu bay thành lời. Nói vậy thôi, làm ăn không chỉ dựa vào tài năng. Cần gặp vận may nữa! Lê Hồi lè nhè bảo, em được chân giám đốc là do vận may. Chuyển ngành đúng thời điểm người ta cần mình. Rồi vợ em tậu một miếng đất thành phố. Lúc mua vài cây vàng. Hai năm sau giá đất tăng vùn vụt. Bán một nửa đã kiếm trăm cây! Thế là gặp may chứ tài giỏi gì!

Trần Đoàn bảo, ông Giảng tài thật sự đó! Tay không mà nổi cơ đồ.

Giảng chắp hai tay cung kính thưa, em chẳng bao giờ dám nhận tài giỏi. Cổ nhân nói, may hơn khôn! Bàn về vận may, xin kể một  chuyện góp vui! Hồi ở chiến trường ra, được cử đi học quân chính. Mà cũng nhờ tờ giấy chứng nhận của  anh Bình  đó! Cuối năm bảy hai, chiến trường Quảng Trị diễn ra ác liệt. Trên yêu cầu bổ sung bốn mươi cán bộ trung đội chi viện cho Thành cổ.

Nghe tin ấy, có người tình nguyện đi. Nhưng cũng rất nhiều anh kêu hoàn cảnh gia đình neo đơn, đề nghị  ở lại. Mà các vị biết rồi đó! Thành cổ Quảng Trị được mệnh danh là cối xay thịt! Rất kinh khủng.

Thấy tình hình phức tạp, ban giám hiệu quyết định triệu tập cuộc họp để làm công tác tư tưởng. Chính uỷ Chữ vốn là nhà hùng biện, nói suốt ba giờ liền. Đến phút chót ông chốt lại một câu:

 - Trên quyết định lấy gọn một trung đội bổ sung cho mặt trận. Rơi vào đồng chí nào, đồng chí ấy phải cắn răng mà chịu! Không ai được hoán đổi chi hết. Cứ coi như đó là số phận!

Cả hội trường đứng bật dậy vỗ tay rầm rầm. Có anh trầm trồ khen ngợi, nói bao nhiêu cũng thừa! Chỉ câu chốt cuối cùng là giá trị.

Các vị biết không? Trung đội mình chính thức được cử đi chiến trường Quảng Trị. Mà hoàn cảnh mình rất đặc biệt mà vẫn  không dám xin ở lại. Coi như không gặp may.

Nhưng giống như câu chuyện Tái ông mất ngựa, trong cái rủi lại có cái may. Vào đến thành cổ Quảng Trị thì chiến dịch kết thúc. Nghiễm nhiên được coi là  anh hùng. Rồi gặp phóng viên Trần Đoàn. Chụp bức ảnh chiến sĩ Thành Cổ. Thế là thành nổi tiếng!

Trần Đoàn tỏ vẻ thích thú bảo, phải nâng li trăm phần trăm chúc mừng sự may mắn! Chúc các chiến hữu phát đạt, giàu có! Mà này, bức ảnh ngày ấy được bảo tàng mua trưng bày từ năm ngoái. Ông thành nhân vật lịch sử rồi đó! Xin mời! Dô, dô, dô!...

Vốn không uống được rượu, lại chưa từng được nếm rượu Tây bao giờ, nên tôi rụt rè đặt ly rượu kề môi cho phải phép.       

- Không được! Phải hết mình với chiến hữu!

Lê Hồi đứng dậy ép cụng ly. Rồi đến Trần Đoàn. Đến Giảng. Lại quay về Lê Hồi. Trăm phần trăm! Chúc mừng sự phồn vinh của thành phố du lịch dầu khí!   

Đầu nóng bừng bừng. Toàn thân bồng bềnh, bồng bềnh như đứng trên con thuyền cưỡi sóng giữa đại dương. Nhìn sang bên thấy hai, ba, bốn, năm, sáu bảy… Lê Hồi, Trần Đoàn… Rồi hàng đàn hàng lũ những em tiếp viên váy ngắn chân dài, nói cười bay lượn, vòng vèo như đàn bướm...

Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy, mệt mỏi bơ phờ, đầu nặng trình trịch. Khát quá, tôi loạng choạng đứng dậy tìm nước uống. Bên ngoài mưa rơi, gió rít.

Quái, mùa mưa đến từ bao giờ nhỉ?

Vợ tôi đang lau nhà, càu nhàu kêu ca thói đua đòi nhậu nhẹt. Vừa lúc ấy có tiếng người lạ đứng ở cửa nói với vợ tôi bằng vẻ cầu xin:

- Chị  làm ơn giúp mấy ngàn mua vé về quê...

Vợ tôi khó chịu bảo, chúng tôi cũng nghèo khổ chẳng kém gì anh! Đi ăn xin thì phải tìm những nơi giàu có chứ!

Người đàn ông lạ mặt giải thích rằng, xin tiền vì cơ nhỡ, chứ không phải là kẻ xin ăn!

Vợ tôi bĩu môi bảo, bệnh sĩ chết trước si đa! Đã ngửa tay xin đều như nhau cả!

Tôi tò mò nhìn người khách lạ. Hình  như có nét quen quen. Chợt người nọ kêu to, khẩu đội phó Bình phải không? Rồi  rối rít giới thiệu, em là thằng Bường, lính khẩu đội ba đây!

Đúng là Bường thật rồi! Nhưng trông Bường quá già so với tuổi.

Bường buồn rầu kể, sau cái đêm bị cháy xe ở Nam Lào, em bị thương, chuyển ra Bắc điều trị. Rồi phục viên về quê làm ruộng. Đời sống không đến nỗi tệ. Nhưng cô con gái út theo bạn bè bỏ nhà ra đi. Nghe đồn làm tiếp viên ở thành phố này. Bởi thế em mới phải cất công vào đây tìm con. Khổ nỗi, địa chỉ không có, nên  lang thang dò hỏi mấy ngày ở các nhà hàng mà không tìm ra. Bây giờ hết tiền. Không người thân thích. Đành nhẫn nhục hạ mình cầu xin...

Nghe Bường kể, tôi ngồi lặng. Kỷ niệm một thời hiện về. Nhưng tất cả đã trở thành dĩ vãng...

Truyện ngắn của Trần Quang Vinh

Cùng chuyên mục