- PV: Xin đồng chí cho biết vài nét khái quát về tình hình phát triển CN-TTCN trên địa bàn các huyện biên giới, hải đảo của tỉnh ta? (Đồng chí Trần Đăng Niên, Giám đốc Sở Công Thương trả lời phỏng vấn Báo Quảng Ninh)
+ Đ/c Trần Đăng Niên: Mặc dù các xã vùng cao, biên giới, hải đảo đã được tỉnh quan tâm đầu tư hạ tầng, vốn, giống, khoa học, giáo dục, y tế và được hưởng ưu đãi theo các Quyết định: 53, 120, 134, 135 nhưng tiềm năng các vùng này vẫn chưa được đánh thức. Tốc độ phát triển tương quan giữa các vùng, miền không đồng đều, tạo ra sự chênh lệch giữa các vùng, các xã trong huyện và giữa các huyện trong tỉnh. Điều đó làm cho quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn ở các huyện có xã thuộc vùng cao, biên giới, hải đảo chậm, không hiệu quả. Cơ sở vật chất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) ở các vùng cao này còn rất yếu và thiếu, vì thế sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp kém so với các vùng khác. Trong 9 huyện, thị xã vùng cao, biên giới, hải đảo của tỉnh chỉ có Móng Cái là phát triển. Các huyện còn lại CN-TTCN chưa đáng kể. Huyện Cô Tô hiện có 25 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó 2 HTX, 23 hộ cá thể; Vân Đồn có 45 cơ sở, trong đó 7 HTX, 28 hộ cá thể, 6 công ty cổ phần, công ty TNHH; Tiên Yên có 147 cơ sở trong đó 1 HTX, 146 hộ cá thể v.v.. Số lao động thuộc ngành CN-TTCN chiếm 9,12% trong tổng số lao động của các địa phương. Trong đó, lao động phân bố tại vùng cao chiếm 34,04%, biên giới 50,92%, hải đảo 15,04%. Giá trị sản xuất công nghiệp của 9 huyện, thị xã biên giới, hải đảo so với toàn tỉnh chiếm khoảng 25-35%. Riêng đối với thị xã Móng Cái, từ năm 2004 trở lại đây, với lợi thế là khu vực kinh tế cửa khẩu quốc tế, một số nhà đầu tư đã bỏ vốn kinh doanh thương mại và xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp lắp ráp, tái chế và sơ chế các mặt hàng: Cao su, sửa chữa cơ khí, đồ gỗ mỹ nghệ, kính xây dựng, ép mex, sản xuất tất, sản xuất kẹo dừa xuất khẩu v.v.. mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- PV: Để phát huy thế mạnh tiềm năng của vùng biên giới, hải đảo, ngành Công Thương đã có những lựa chọn như thế nào, thưa đồng chí?
+ Đ/c Trần Đăng Niên: Quảng Ninh là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, là cửa ngõ giao lưu của Việt Nam và các nước ASEAN với Trung Quốc, nên các huyện biên giới, hải đảo có rất nhiều ưu thế để phát triển CN-TTCN. Vấn đề là phải biết lựa chọn và phát huy thế mạnh của từng địa phương, từng ngành nghề để có hướng đầu tư thích hợp. Mới đây, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã có quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển CN-TTCN tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010, xác định sẽ tập trung đầu tư phát triển những ngành công nghiệp lợi thế như: Khai thác và chế biến khoáng sản quy mô vừa và nhỏ, chế biến nông - lâm sản, vật liệu xây dựng, thủy điện nhỏ, phân bón, hóa chất và cơ khí sửa chữa. Ưu tiên thu hút đầu tư vào chế biến, gia công xuất khẩu, sản xuất bao bì và đóng gói xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Chú trọng phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống có sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu tại địa phương như dệt, mây tre đan, chạm khắc gỗ, mộc dân dụng… góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong vùng, tăng thu nhập cho dân. Theo quy hoạch này, tỉnh ta đã triển khai thực hiện Đề án phát triển CN-TTCN vùng cao, biên giới, hải đảo giai đoạn 2005-2015, tầm nhìn 2020 và Quy hoạch phát triển làng nghề - TTCN Quảng Ninh giai đoạn 2006-2015, tầm nhìn 2020. Đồng thời đã tập trung kêu gọi và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp miền núi, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước (dự kiến huy động vốn của các doanh nghiệp quốc doanh sẽ chiếm 60-65%, khu vực dân doanh 10-15%, khu vực đầu tư nước ngoài 20-25%).
Để thu hút được vốn đầu tư phát triển CN-TTCN trên vùng cao, biên giới, hải đảo, tỉnh cũng đã xác định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo thúc đẩy tạo môi trường thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế. Vốn ngân sách Nhà nước (kể cả Trung ương và địa phương) tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng: Giao thông, điện, bưu chính viễn thông, y tế, trường học. Bên cạnh đó, tỉnh sẽ tập trung thực hiện thành công các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. Tổ chức thực hiện các dự án ở những vùng khó khăn nhất, lồng ghép các chương trình dự án trên cùng một địa bàn. Tạo điều kiện tối đa cho nhân dân được hưởng lợi, cùng tham gia vào quá trình lập và thực hiện kế hoạch triển khai các công việc theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi. Xây dựng một số cụm cơ sở CN -TTCN quan trọng làm trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản để giải quyết việc làm và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.
- PV: Xin cảm ơn đồng chí!