Trong những ngày qua, dư luận râm ran việc Đà Nẵng "dọa" kiện Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) ra Tòa án, nếu không chịu sửa một số điểm trong Dự thảo Quy trình vận hành liên hồ chứa hàng năm các hồ thủy điện A Vương, Đăk Mi 4 và Sông Tranh 2. Thực, hư câu chuyện này thế nào?...
Chung quy, những vấn đề "nóng" nói trên đều có cùng "mẫu số" là do NMTĐ Đăk Mi 4 chuyển nước từ sông Vu Gia sang sông Thu Bồn để phát điện, mà không chịu trả lại nước cho sông Vu Gia vào mùa cạn.
Theo phân tích của cơ quan chuyên môn, về mùa nắng, NMTĐ Đăk Mi 4 đã lấy đi trung bình 1,2 tỉ m3 nước của sông Vu Gia. Nhưng, NMTĐ A Vương chỉ mới bổ sung 226 triệu m3 cho sông Vu Gia và sau này, khi các NMTĐ trên sông Bung xây dựng xong thì cũng chỉ bổ sung thêm được 234 triệu m3 nước (theo quy hoạch đã phê duyệt thì các NMTĐ trên sông Bung bổ sung 468 triệu m3 nước cho sông Vu Gia nhưng khi thiết kế xây dựng chỉ còn 234 triệu m3 nước, giảm đến 50% dung tích hữu ích do không đủ nguồn nước). Có nghĩa là nếu xây dựng được quy trình điều tiết tối ưu nhất thì hạ du sông Vu Gia trong mùa cạn vẫn thiếu 700 triệu m3 nước, so với điều kiện tự nhiên trước đây khi chưa có các NMTĐ...
Nhưng, trên thực tế, hiện nay, hạ du sông Vu Gia thiếu gần 1 tỷ m3 nước vào mùa cạn. Nếu NMTĐ Đăk Mi 4 có trả nước về lại sông Vu Gia với lưu lượng 25m3/s trong suốt mùa cạn thì cũng chỉ mới trả lại 560 triệu m3 nước, bằng 47% tổng lượng nước đã lấy đi trong mùa cạn, trong khi NMTĐ Đăk Mi 4 dành toàn bộ 100% lượng nước tích trong mùa mưa và 53% lượng nước tích được trong mùa cạn để phát điện…
Dựa trên kết quả quan trắc từ năm 1976-2012, UBND TP Đà Nẵng đã đề nghị chọn mực nước khống chế trên sông Vu Gia tại Trạm thủy văn Ái Nghĩa là 2,8m (mực nước trung bình của 3 tháng cạn kiệt nhất là tháng 2, 3 và 4) trong suốt mùa cạn làm cơ sở vận hành xả nước trả lại sông Vu Gia của NMTĐ Đăk Mi 4 với mức xả 25m3/s khi mực nước xuống dưới 2,8m; xả 12,5m3/s khi mực nước từ 2,8-2,93m và xả 5m3/s khi mực nước cao hơn 2,93m. Với quy trình xả nước như vậy thì trung bình hằng năm, NMTĐ Đăk Mi 4 cũng chỉ trả lại sông Vu Gia 452,8 triệu m3 nước, chỉ chiếm 38% so với tổng lượng nước mà NMTĐ Đăk Mi 4 đã lấy đi trong mùa cạn của sông Vu Gia (1,2 tỷ m3 nước).
Rõ ràng, việc chọn mực nước khống chế 2,53m làm cơ sở vận hành xả nước và việc quy định mức xả nước về sông Vu Gia của NMTĐ Đăk Mi 4 như trong dự thảo quy trình là còn thiếu thực tế và coi trọng lợi ích phát điện mà bỏ quên việc đẩy mặn phục vụ cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất cho người dân hạ du và điều hòa môi sinh.
Qua nghiên cứu, GS.TS Nguyễn Thế Hùng, Khoa Xây dựng Thủy lợi - Thủy điện, Đại học Bách khoa Đà Nẵng, cho rằng: "NMTĐ Đăk Mi 4 đã chuyển nước sông Vu Gia sang sông Thu Bồn để phát điện thì phải trả, điều tiết nước sông Vu Gia giống như điều kiện tự nhiên. Vì hiện tượng thủy văn có tính chất ngẫu nhiên, nên việc lấy nước sông Vu Gia thì phải trả nước về lại sông Vu Gia đúng với điều kiện tự nhiên. Dự thảo quy trình vận hành chọn mực nước khống chế 2,53m tại Trạm Thủy văn Ái Nghĩa làm cơ sở vận hành xả nước về sông Vu Gia lại càng không đúng. Vì nếu một năm nào đó đại hạn, liệu rằng hồ chứa NMTĐ Đăk Mi 4 có nước để mà xả ? Theo tôi, hằng năm, sau mùa mưa lũ, các bên liên quan ngồi lại với nhau xác định dòng chảy tự nhiên, trữ lượng nước đã tích được trong mùa mưa lũ và nhu cầu nước cụ thể của hạ du rồi thống nhất phương án xả nước điều tiết nước sông Vu Gia, chống hạn…
Với cách tiếp cận vấn đề theo hướng này, gặp những năm mưa thuận gió hòa, UBND TP Đà Nẵng gửi công văn yêu cầu NMTĐ xả nước về hạ du đủ nhu cầu, lượng nước còn lại thì NMTĐ sử dụng phát điện. Còn những năm kiệt nước thì NMTĐ Đăk Mi 4 phải trả về sông Vu Gia với lưu lượng đúng dòng chảy tự nhiên, không được tham lam giữ nước của người dân hạ du mà phát điện để lấy tiền. Nếu không xả nước về sông Vu Gia thì phải đền bù thiệt hại cho người dân hạ du đối với lượng nước mà NMTĐ Đăk Mi 4 đang giữ".
Theo CAND