Than có lẽ là ngành công nghiệp đầu tiên ở nước ta (xuất hiện từ 1840) và đã từng được ví là “bánh mỳ công nghiệp”, đặc biệt với truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” ngành Than đã đáp ứng thỏa mãn các nhu cầu về than của nền kinh tế; đồng thời, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước...
Hiện tại, ngành Than đã trở thành một tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề với sản xuất than là nền tảng. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ, phóng viên Báo Quảng Ninh đã có buổi trao đổi với đồng chí Đoàn Văn Kiển, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) về hoạt động của đơn vị.
Phóng viên (PV): Xin chúc mừng đồng chí cùng toàn thể CBCN-LĐ trong Tập đoàn nhân kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống của ngành. Với cương vị là Tổng Giám đốc một tập đoàn kinh tế lớn, đồng chí cho biết một số nét chính về hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong thời gian vừa qua.
Đồng chí Đoàn Văn Kiển (ĐVK): Như các bạn đã biết, đầu những năm 1990 vị thế của ngành Than bị suy yếu nghiêm trọng, cả vùng than xuất hiện hàng nghìn lò than thổ phỉ, tranh mua tranh bán, đời sống công nhân hết sức khó khăn... Kể từ khi Chính phủ cho phép thành lập Tổng Công ty Than Việt
PV: Đồng chí có thể nói rõ hơn về tiến trình này?
ĐVK: Khởi đầu cho tiến trình này là TKV đã xin phép Thủ tướng Chính phủ cho xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than với công nghệ tầng sôi tuần hoàn kết hợp với đá vôi để khử lưu huỳnh, sử dụng các loại than xấu có độ tro lên đến 50% để phát điệnngay tại các nơi có mỏ than như các nhà máy điện: Na Dương (Lạng Sơn), Cao Ngạn (Thái Nguyên) công suất 100MW; Sơn Động (Bắc Giang), công suất 220 MW; Mạo Khê (giai đoạn I, 220MW), Cẩm Phả (60MW). Ngoài việc bỏ vốn tự đầu tư, chúng tôi còn tham gia góp cổ phần với Tổng Công ty Điện lực Việt Nam xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng (1.200MW); Nhiệt điện Quảng Ninh (1.200 MW ở Hà Khánh, Hạ Long)... đồng thời liên doanh với Tập đoàn AES (Mỹ) xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương với công suất trên 1.000MW. Các công ty cơ khí của Tập đoàn đã chuyển hướng từ sửa chữa sang chế tạo đồng thời hợp tác với nước ngoài lắp ráp, chế tạo các thiết bị khai thác mỏ hiện đại phục vụ cơ giới hóa các mỏ hầm lò và các thiết bị phi tiêu chuẩn cho các nhà máy điện, xi măng đã hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực lắp ráp xe tải nặng và xe chuyên dùng. Công ty Đóng tàu Than Việt Nam đã đóng thành công và bàn giao cho khách hàng đưa vào hoạt động nhiều đoàn sà lan có trọng tải trên 1.000 tấn, cuối năm nay sẽ hạ thủy tàu 7.000 tấn. Hiện công ty này cũng đang đẩy nhanh việc đầu tư và xây dựng cơ bản để có thể đóng được tàu có trọng tải 15.000DWT. Cùng với cơ khí, TKV còn được Chính phủ cho phép sản xuất, cung ứng vật liệu nổ công nghiệp và làm dịch vụ trọn gói khoan, nổ mìn theo yêu cầu của khách hàng được phép sử dụng; khai thác các loại quặng, trong đó có quặng Bauxít để luyện ra alumin cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Hiện tại Tổng Công ty Đông Bắc đang xây dựng cơ sở hạ tầng các khu mỏ này tại xã Nhân Cơ huyện Đăk Rlấp (tỉnh Đăk Nông) và huyện Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng), dự kiến đến cuối năm 2009 các nhà máy ở đây sẽ đi vào hoạt động với công suất xấp xỉ 1 triệu tấn alumin/năm.
Đêm trên khai trường Hà Tu. ảnh Đỗ Khánh
PV: Để ngành Than phát triển ổn định và đi lên như ngày nay, vậy bài học của thành công là gì, thưa đồng chí?
ĐVK: Bài học lớn nhất là phát huy truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” luôn vượt khó đi lên của thợ mỏ, biến nó thành sức mạnh vật chất để đương đầu và vượt qua thử thách, chớp lấy cơ hội phát triển. Cộng với nắm vững đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước để xây dựng chiến lược phát triển và có cơ chế quản lý nội bộ hợp lý tạo ra sân chơi công bằng và động lực phát triển cho các doanh nghiệp, phát triển đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ thạo việc, trung thành với sự nghiệp. Cụ thể là chúng tôi đã giải quyết tốt khâu thị trường, lập lại trật tự trong khai thác và tiêu thụ than; cùng với việc lập lại trật tự và tiêu thụ than trong nước, TKV đã đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài. Chỉ tính riêng từ đầu năm đến nay TKV đã khai thác được 32,5 triệu tấn than nguyên khai, xuất khẩu 17,2 triệu tấn than thương phẩm đạt kỷ lục xuất khẩu cao nhất từ trước tới nay. Đồng thời thực hiện tốt việc khoán sản phẩm cộng với quản lý chi phí và Tổng Giám đốc Tập đoàn đã ký hợp đồng trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh với giám đốc các công ty thành viên nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân, khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Cộng với đó là ngành Than đã tích cực đầu tư bằng nhiều nguồn vốn để đổi mới công nghệ nhằm duy trì, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm. Hiện Tập đoàn đang tiếp tục đẩy mạnh việc đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng các mỏ hiện có và mở thêm một số mỏ hầm lò có công suất lớn; xây dựng mới nhà máy sàng tuyển có công suất từ 3 đến 10 triệu tấn/năm.
PV: Khai thác than là nghề rất nặng nhọc, độc hại, TKV đã có những việc làm cụ thể gì để nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng việc làm cho thợ mỏ?
ĐVK: Mục tiêu đặt ra của TKV là làm sao giảm bớt được sự nặng nhọc, nguy hiểm, rủi ro trong lao động của người thợ mỏ và làm sao để họ phục hồi sức khỏe nhanh sau ca làm việc. Vì mục tiêu nói trên trong nhiều năm qua các mỏ than đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ vừa đảm bảo an toàn vừa bảo vệ môi trường tốt hơn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Các nhà ăn, khu tập thể công nhân được xây dựng, cải tạo, mở rộng. Công nhân đi làm có xe ca đưa đón, thợ lò và những nghề có tiếp xúc với các hóa chất độc hại được trang bị đầy đủ dụng cụ phòng hộ. Nhiều khu vực sản xuất đã được lắp đặt máy điều hòa, nhà tránh nắng, tưới nước, phun sương dập bụi cho CNLĐ. Đa số các đơn vị đều đã xây nhà tắm nước nóng, phòng xông hơi và giặt sấy quần áo BHLĐ, ủng đi lò. Nhiều công ty còn tổ chức đưa cơm hộp tới tận nơi sản xuất hoặc tổ chức ăn tự chọn với chất lượng cao, góp phần cải thiện rõ rệt điều kiện ăn, ở của người lao động. Đến nay, hầu hết các đơn vị đều đã có sân vận động, nhà thi đấu, nhà sinh hoạt văn hóa thể thao, văn hóa công nhân có sức chứa từ 1.000 đến 4.000 người cùng hệ thống các câu lạc bộ, thư viện... Một số đơn vị có điều kiện còn xây dựng cả bể bơi, phòng thể dục thẩm mỹ. Hàng năm trên 90% CNLĐ trong các doanh nghiệp được đi tham quan, du lịch, và khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt chúng tôi còn đầu tư thiết bị rửa bụi phổi cho công nhân. Các trường dạy nghề, các công ty than đã tích cực chăm lo công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức kỷ luật, xây dựng tác phong công nghiệp, làm việc đúng quy trình kỹ thuật nhằm giảm thiểu tai nạn lao động. Tất cả những việc làm trên đều hướng tới trí thức hóa công nhân, xây dựng một lực lượng thợ mỏ vững mạnh.
PV: Đã gần 1 năm chuyển từ Tổng Công ty sang Tập đoàn, vậy đồng chí có thể cho biết những khó khăn, thuận lợi và lợi ích khi chuyển đổi mô hình hoạt động?
ĐVK: 12 năm trước đây khi mới thành lập Tổng Công ty Than Việt
PV: Đồng chí có thể cho bạn đọc biết một vài nét chính trong chiến lược phát triển của Tập đoàn từ nay đến năm 2020?
ĐVK: Nét chính trong chiến lược phát triển của Tập đoàn từ nay đến năm 2020 là phát triển bền vững trên cơ sở kinh doanh đa ngành, liên tục tạo ra các nguồn lực mới bằng cách khai thác có hiệu quả cao nhất các cơ hội đầu tư mới theo phương châm sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có để đầu tư phát triển vùng mỏ Bau xít tại Tây Nguyên, các nhà máy điện chạy than... sau đó sử dụng các nguồn lực mới tạo ra được từ đây để phát triển than vùng đồng bằng Sông Hồng và đầu tư ra nước ngoài. Nói tóm lại thế và lực của ngành Than đã thay đổi có lợi cho sự phát triển. Khó khăn trước mắt còn nhiều và chắc chắn sẽ không ít phức tạp nhưng tôi tin rằng thợ mỏ sẽ vượt qua và tiến tới một tương lai tươi sáng góp phần xứng đáng trong sự nghiệp phát triển đất nước, phát triển Quảng Ninh giàu mạnh.
Nhân dịp này xin trân trọng gửi đến Báo Quảng Ninh và bạn đọc lời cảm ơn chân thành và lời chúc mừng nhân kỷ niệm 70 năm “Ngày miền mỏ bất khuất - Ngày truyền thống ngành Than”.
PV: Xin cám ơn đồng chí!