Xử lý ô nhiễm môi trường do sản xuất than: Cần triệt để hơn nữa

Những năm gần đây, việc tăng nhanh sản lượng than nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường là cố gắng lớn của cán bộ, công nhân ngành Than. Thế nhưng so với quy hoạch mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho ngành Than (Quyết định số 20/2005/QĐ-TTg) thì sản lượng than khai thác đã tăng quá nhiều, quá nhanh, vượt qua cả tầm nhìn 2020 theo quyết định. Tăng nhanh về sản lượng, trong khi  các giải pháp bảo vệ môi trường, hạ tầng kỹ thuật đầu tư chưa tương xứng và đồng bộ; ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường của nhiều doanh nghiệp trong Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) chưa cao, còn bỏ qua một số quy định bắt buộc của Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường (giấy phép khai thác; thiết kế mỏ; ký quỹ phục hồi môi trường; xử lý chất thải nguy hại).

Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do xe vận chuyển than gây ra.

Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do xe vận chuyển than gây ra.

Hoạt động khai thác than đã làm cho cảnh quan môi trường bị biến đổi lớn, việc đổ thải đã tạo lên các bãi thải thải lớn như Cọc Sáu (cao 280m), Nam Đèo Nai (cao 200m), Đông Cao Sơn (250m), Mông Gioăng, Đông bắc Bàng Nâu (150m), Núi Béo (140m) và các moong sâu hơn 100m. Nhiều bãi thải gần đường giao thông và khu dân cư như bãi thải Núi Béo nằm sát đường 18B và khu dân cư Hà Trung, bãi thải Nam Lộ Phong nằm sát đường 18A...nhưng chưa được đảm bảo an toàn. Năm 2005-2006 đã xảy ra hiện tượng lũ quét tại suối Lộ Phong (Hạ Long) và suối Lép Mỹ (Cẩm Phả) gây chết người. Mưa lớn đã gây vỡ đập Khe Rè 1, đất đá từ bãi thải của Công ty Than Cọc Sáu  sạt xuống làm sập 9 nhà dân, làm ngập hàng trăm hộ dân khác ở khu 2, khu 4  phường Cẩm Thịnh và Cửa Ông. Cũng sau mưa, hơn 500.000 m3 đất đá từ bãi thải Cao Sơn đổ xuống lấp kín cả hệ thống đê chắn và  một cửa lò than ở mức + 36 vỉa G9 của Công ty Than Mông Dương. Nhiều vấn đề bức xúc chưa được quan tâm giải quyết một cách quyết liệt, hiệu quả như xử lý nước thải mỏ, đất đá trôi từ các khai trường, bãi thải cũng như xử lý bụi trên các tuyến đường có hoạt động vận chuyển than chưa cao đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt, sức khỏe của nhân dân.

Việc để  ô nhiễm môi trường do sản xuất gây ra đã gây rất nhiều bức xúc trong dư luận, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận những cố gắng của TKV trong việc khắc phục tình trạng trên. Lãnh đạo Tập đoàn và Đảng uỷ than Quảng Ninh đặc biệt quan tâm chỉ đạo các đơn vị thành viên đẩy mạnh  công tác tuyên truyền, giáo dục  để từng bước làm thay đổi nhận thức bảo vệ môi trường trong cán bộ, công  nhân. Xây dựng hệ thống bộ máy quản lý bảo vệ môi trường từ Tập đoàn đến các doanh nghiệp thành viên và  xây dựng các văn bản quy định nội bộ về bảo vệ, phòng ngừa sự cố môi trường. Gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với việc xem xét đánh giá phân loại hoàn thành nhiệm vụ hàng năm đối với tổ chức, cá nhân; đầu tư thực hiện các công trình bảo vệ môi trường từ quỹ môi trường năm sau cao hơn năm trước và thực hiện nghiêm Nghị định 137 của Chính phủ để phát huy nguồn vốn này trong bảo vệ  môi trường. Cùng với đó TKV phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh xây dựng các dự án tổng thể khắc phục ô nhiễm môi trường do khai thác than nhiều năm trên địa bàn để lại như: Công trình cải tạo môi trường, cảnh quan bãi thải Nam Đèo Nai; Công trình cải tạo môi trường, cảnh quan sông Mông Dương; công trình xử lý nước thải Cọc Sáu - Đèo Nai; Công trình trồng cây cải tạo môi trường khu vực Nam Khe Sim; Công trình cải tạo môi trường cảnh quan bãi thải Nam Lộ Phong; công trình cải tạo môi trường cảnh quan nhà máy tuyển than Nam Cầu Trắng;công trình cải tạo cảnh quan môi trường sông Vàng Danh; Công trình khôi phục bảo vệ các hồ chứa nước phía Đông huyện Đông Triều; Công trình tăng cường năng lực vận tải tuyến đường sắt Vàng Danh - Điền Công, hạn chế vận chuyển bằng ô tô bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí. Một đồng chí lãnh đạo TKV cho biết: “Năm 2006 và 6 tháng đầu năm nay, TKV đã tập trung các  nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường theo quy hoạch và xây dựng  hệ thống hạ tầng đường  vận chuyển chuyên dụng ở  các khu vực Đông Triều, Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả, tăng cường đầu  tư  năng lực vận chuyển than bằng  đường sắt tuyến Vàng Danh - Điền Công, Khe Thần, Lán Tháp, tuyến miền Tây Cẩm Phả, hiện đại hoá các cảng than, đổi mới công nghệ khai thác (máy khấu Combai, dàn chống thuỷ lực) nạo vét các sông suối (Mông Dương, Vàng Danh), xử lý bùn nước sau tuyển than, trồng cây phủ xanh các bãi thải mỏ (bãi thải đèo Nai, Hà Tu...) ứng vốn cho lâm trường  trồng rừng gỗ trụ mỏ, xây dựng các khu đô thị công nhân mỏ để tạo quỹ đất làm nhà cho công nhân mỏ di chuyển các hộ dân ra xa khu bãi thải, xa khai trường như khu lấn biển Cẩm Phả, Cái Đá (Hạ Long), Điền Công (Uông Bí)”. Mặc dù nhận thức về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp ngành Than đã được nâng lên, nhiều giải pháp xử lý cấp bách được thực hiện đã giảm bớt một phần ô nhiễm. Tuy nhiên, TKV cần đẩy mạnh hơn nữa công tác  chỉ đạo các đơn vị thành viên thực hiện triệt để các giải pháp bảo vệ môi trường đã được phê duyệt trong báo cáo đánh giá tác động môi trường; xử lý nước thải mỏ, bụi trên các tuyến đường vận chuyển than; hoàn nguyên môi trường và thực hiện nghiêm túc các kiến nghị mà các cơ quan chức năng đưa ra.

Cùng chuyên mục