Bà Chúa thơ Nôm với Vịnh Hạ Long

Hồ Xuân Hương là một con người bí ẩn - đó là ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về văn học sử Việt Nam. Theo Nguyễn Hữu Tiến và Dương Quảng Hàm, những người đầu tiên nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (1703-1786) quê Quỳnh Lưu (Nghệ An), một thầy đồ ra dạy học ở Bắc Ninh, với người vợ lẽ họ Hà.

Tháng 12-1983, trên tạp chí Khoa học Xã hội số 10 và 11, xuất bản tại Pa-ri (Pháp), GS Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) đã công bố công trình nghiên cứu với tựa đề “Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long”. Theo GS Hoàng Xuân Hãn, cái tên Hồ Xuân Hương ông lần đầu thấy trong cuốn Quốc Sử Di biên của ông Thám hoa Phan Thúc Trực, người Nghệ An, trong đó nói Hồ Xuân Hương là tiểu thiếp của ông hiệp trấn Trần Phúc Hiển ở Yên Quảng, tức Quảng Yên bây giờ. Cũng trong Quốc Sử Di biên, ông Phan Thúc Trực có nói đến cô vợ bé tên là Hồ Xuân Hương, giỏi văn chương và chính trị, được dự vào việc xử án, phê phán với chồng. Năm 1952, khi qua Pháp, nhân Thư viện quốc gia của Pháp nhờ làm mục lục về những sách chữ Nho và chữ Nôm của họ, tình cờ GS Hoàng Xuân Hãn lại thấy một cuốn sách địa dư, trong đó nói đến tỉnh Quảng Yên. Cuối phần tỉnh Quảng Yên thấy có sáu bài thơ đề là của Hồ Xuân Hương. Đến lúc xét lại mấy bài thơ về Vịnh Hạ Long thì có 5 bài chắc chắn là của Hồ Xuân Hương.

Vịnh Hạ Long từ hàng trăm năm qua luôn là đề tài sáng tác bất tận cho các tao nhân, mặc khách.
Vịnh Hạ Long từ hàng trăm năm qua luôn là đề tài sáng tác bất tận cho các tao nhân, mặc khách.

Về 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương viết về Vịnh Hạ Long, năm 1962, học giả Trần Văn Giáp (1902-1973) công bố 5 bài thơ này trên báo Văn Nghệ. Năm 1983, GS Hoàng Xuân Hãn dịch 5 bài đó, gồm: Độ Hoa Phong (Qua vũng Hoa Phong), Hải ốc trù (Ngóng đỉnh Toan Ngoan), Nhãn phóng thanh (Mắt toả màu xanh), Thuỷ Vân hương (Về chốn nước mây) và Trạo ca thanh (Trỗi tiếng ca chèo). Năm 1984, GS Hoàng Xuân Hãn đã đăng 5 bài thơ này trên tập san Khoa học Xã hội tại Pa-ri, lấy tiêu đề “Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long”...

Nói đến thơ Hồ Xuân Hương, theo các nhà nghiên cứu về văn học, người ta nghĩ ngay đến bà chỉ nổi tiếng bởi thơ Nôm, thơ bà chỉ thiên về tình cảm, tình yêu, phê phán xã hội, chọc ngoáy xã hội vì những sự bất công, tệ bạc đối với phụ nữ của xã hội chuyên chế phương Đông. Tuy nhiên, đọc những dòng thơ viết về phong cảnh Vịnh Hạ Long, người ta thấy một Hồ Xuân Hương với những vần thơ về non nước đầy chất trữ tình. Ở bài “Trỗi tiếng ca chèo” cho thấy biển trời, non nước Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc: “Long lanh bốn phía rủ màn mây/ Nước phẳng lô nhô măng mọc dày/ Mới biết nguồn Đào ngăn cửa đá/ Nào ngờ Bến Cá có đồn xây/ Mặc cho họ Tạ xem đâu hết/ Dẫu có chàng Lâm vẽ chẳng tày/ Xa ngóng chân trời non lẫn nước/ Bỗng nghe chèo hát trỗi đâu đây” (Hoàng Xuân Hãn dịch). Cái hay của bài thơ là tác giả nhìn những ngọn núi nhấp nhô trên mặt biển đã ví như là “măng”, khiến cho hình ảnh đã được “mềm hoá” đi mà vẫn giữ được vẻ đẹp vốn có… Nếu như các bài Độ Hoa Phong, Nhãn phóng thanh, Thuỷ Vân hương cũng cơ bản là ngợi ca cảnh đẹp của Vịnh Hạ Long thì ở bài Hải ốc trù, bà chúa thơ Nôm lại không tả cảnh, mà là một cái nhìn có tầm quân sự chiến lược đối với Vịnh Hạ Long:“Giữ duềnh thủng thẳng phẩy chèo lan/ Sát núi càng hay cảnh lặng nhàn/ Mây cuốn bày ra lèn cứng cỏi/ Núi cao những ngóng đỉnh Toan Ngoan/ Bằng Di chống cột e trời đổ/ Long Nữ thêm nêu sợ bể tràn/ Dấu ngựa Thuỷ Hoàng chưa đến đó/ Trời dành để giữ đất người Nam.” (Hoàng Xuân Hãn dịch). Trước cảnh Hạ Long núi non, biển trời hùng vĩ, tươi đẹp, không chỉ có thi hứng, cảm nhận về cái đẹp, cái hùng vĩ, mà nữ sĩ lại liên tưởng, nghĩ đến tương lai, vận mệnh đất nước, bảo vệ bờ cõi linh thiêng của dân tộc. Hai câu thơ cuối, theo GS Hoàng Xuân Hãn, có ý gần giống với ý trong bài “Núi Chiếc đũa” của Hoàng đế Lê Thánh Tông đề trên núi Chích Trợ (tên nôm là núi Chiếc đũa, nay thuộc làng Văn Đức, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, Thanh Hoá): “Trời còn dành để An Nam mượn/ Vạch chước bình Ngô mãi mới vừa”. Có lời bình rằng, đứng trước núi non, biển trời Hạ Long hùng vĩ này mà nghĩ rằng đó là được trời cho để bảo vệ độc lập dân tộc thì Lê Thánh Tông, vị Hoàng đế anh minh thời Lê đã gặp Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ tài sắc sinh sống tận thế kỷ 19. Thú vị thay!

Đại Dương

Cùng chuyên mục