Thực tiễn cách mạng Việt Nam 90 năm qua cho thấy, để xứng đáng vừa là người lãnh đạo sáng suốt, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Ðảng ta luôn đặc biệt chăm lo củng cố mối liên hệ giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân và mối liên hệ này đã góp phần củng cố và tăng cường sức mạnh của Ðảng về mọi mặt, làm cho Ðảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Thấm nhuần điều này, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh luôn nỗ lực thực hiện mọi giải pháp củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa cán bộ, đảng viên và nhân dân ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng.
Việc gì có lợi cho dân thì làm
Xuất phát từ quyết tâm “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh luôn trăn trở về tổng kết thực tiễn, áp dụng lý luận trong xây dựng mô hình mới đáp ứng yêu cầu của quy luật phát triển. Mọi quyết sách, chủ trương trước khi tỉnh ban hành đều phải được cân nhắc kỹ nhằm bảo đảm hài hòa các quyền lợi của người dân, chính quyền và doanh nghiệp.
Cũng nhờ đó mà nhiều chủ trương, chính sách lớn của địa phương được người dân tin tưởng, ủng hộ, nhanh chóng được triển khai có hiệu quả trong thực tiễn, trở thành động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh. Điển hình là tỉnh đã nghiên cứu và trình Bộ Chính trị Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”; đề xuất “Xây dựng Khu hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn” với mong muốn phát huy nội lực, thu hút đầu tư, tăng cường công nghệ, áp dụng các cơ chế, chính sách mới có sức cạnh tranh toàn cầu; trải nghiệm thể chế để đi trước, để bứt phá.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã có những sáng tạo nhằm tạo sự đột phá về phát triển kinh tế - xã hội như: Chủ động dùng ngân sách tỉnh để giải phóng mặt bằng và linh hoạt hóa các nguồn lực để làm các công trình dự án hạ tầng giao thông, du lịch nhằm tạo nền tảng cho sự bứt phá của nền kinh tế; quyết liệt trong cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, dành nguồn lực thỏa đáng đầu tư cho an sinh xã hội... Chỉ tính riêng từ năm 2018 đến nay, Quảng Ninh đã hoàn thành một số dự án, công trình giao thông có tính động lực cao, góp phần thay đổi diện mạo đô thị và trở thành điểm đến tham quan hấp dẫn của nhân dân trong tỉnh, cũng như du khách trong và ngoài nước như: Sân bay Vân Đồn, cầu Bạch Đằng, đường nối TP Hạ Long với cầu Bạch Đằng, cao tốc Hạ Long - Vân Đồn. Đồng thời, tỉnh cũng xây dựng cơ chế, chính sách, thu hút các nhà đầu tư, triển khai xây dựng phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp các công trình sản xuất công nghiệp có vai trò động lực.
Song song với đó, tỉnh cũng có những quyết sách quan trọng để đẩy mạnh phát triển vùng nông thôn, miền núi, kéo gần sự chênh lệch giữa các địa phương trong tỉnh. Điển hình là trong xây dựng nông thôn mới. Năm 2010, khi Quảng Ninh chính thức bắt tay vào xây dựng nông thôn mới tỉnh đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Năm đó trên địa bàn có 53 xã khó khăn, trong đó có 22 xã đặc biệt khó khăn; đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn còn ở mức thấp, khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn còn lớn, thu nhập bình quân khu vực nông thôn mới đạt 10,98 triệu đồng/người/năm... Số xã đạt trên 75% Bộ tiêu chí mới có 26 xã (chiếm 20,8%). Đó chưa kể đến quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, lạc hậu, thiếu ứng dụng khoa học công nghệ cũng như liên kết sản xuất còn mơ hồ, chủ yếu tự cung tự cấp. Trước thực trạng này, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 27/10/2010 xác định “Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội...”. Toàn tỉnh đã dồn tâm, dồn sức cho chương trình. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã mạnh dạn giao quyền tự chủ về tới tận xã/thôn, giúp bộ máy chính trị - xã hội chủ động bàn bạc với người dân tìm giải pháp thực hiện – theo đúng tôn chỉ “dân làm chủ” của chương trình. Nhờ vậy, sau 10 năm, toàn tỉnh đã huy động được hơn 121.000 tỷ đầu tư, trong đó vốn ngân sách chỉ chiếm 11%, còn lại là huy động đóng góp của người dân và các nguồn lực khác. Dự kiến đến hết năm 2019, Quảng Ninh có 90 xã đạt chuẩn, 6 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới - hoàn thành mục tiêu giai đoạn trước 1 năm.
Cùng với đó, hàng loạt mô hình đổi mới trong xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã được Quảng Ninh thực hiện như: Nhất thể hóa các chức danh; hợp nhất các cơ quan khối đảng và chính quyền có nhiệm vụ tương đồng; thành lập cơ quan khối MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp; thực hiện mô hình bí thư kiêm trưởng thôn, khu ở 100% thôn, khu, bản trên địa bàn tỉnh… Đây đều là những mô hình đã được chứng minh tính hiệu quả trong thực tế; được nhân dân đánh giá cao và một số mô hình đã được trung ương nhân rộng ra cả nước.
Ông Vũ Đình Phúc, Trưởng Ban Hành giáo, giáo xứ Trà Cổ, TP Móng Cái, cho biết: Chứng kiến sự phát triển của Móng Cái nói riêng, Quảng Ninh nói chung, tôi rất mừng. Nhờ những quyết sách trúng, đúng của Đảng bộ tỉnh mà địa phương ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Nhiều mô hình tỉnh đưa ra rất hợp lòng dân, rất hiệu quả trong thực tế. Điển hình như là mô hình Bí thư kiêm trưởng thôn, khu đã góp phần quan trọng trong việc đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ khu dân cư. Mặt khác, mô hình này cũng đã giúp giảm các khâu trung gian, tránh sự trùng chéo, đùn đẩy, né tránh hoặc có khoảng trống trong sự lãnh đạo của chi bộ và điều hành của trưởng thôn. Qua đó, đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ngay từ cơ sở.
Tất cả vì niềm tin của nhân dân
Để xây dựng niềm tin cho nhân dân vào Đảng, vào hệ thống chính trị, Quảng Ninh đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tập trung vào chỉnh sửa lề lối, tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ theo hướng sát dân, gần dân. Đồng thời, nghiêm túc đẩy mạnh các biện pháp giáo dục, rèn luyện, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, đấu tranh với các hiện tượng thoái hóa, biến chất, siết chặt kỷ luật của Đảng, kiên quyết thải loại những phần tử đã biến chất ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ của Đảng và bộ máy chính quyền. Tỉnh đã đổi mới cách thức giao nhiệm vụ cho tập thể, cán bộ, đảng viên, gắn với thực hiện cơ chế giám sát tiến độ, chất lượng, hiệu quả công tác, ràng buộc trách nhiệm, quyền hạn cụ thể. Các cấp ủy, chính quyền đều thực hiện hiệu quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, quán triệt và thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Song song với đó, tỉnh cũng rà soát, sửa đổi bổ sung các quy chế, quy định, tăng cường phân công, phân cấp, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Đồng thời, thực hiện công khai, minh bạch và mở rộng nguồn phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ; thực hiện thi tuyển các chức danh lãnh đạo. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý các sai phạm được tăng cường. Đồng chí Vũ Văn Diện, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, cho biết: Các cấp ủy đều kiên quyết chỉ đạo giải quyết những bức xúc của nhân dân, chấn chỉnh quản lý trong quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, môi trường, quản lý xây dựng cơ bản; rà soát, thu hồi dự án “treo”, chậm, sai mục đích, vi phạm pháp luật… Chỉ tính riêng trong năm 2019, qua kiểm tra, giám sát, thanh tra kịp thời phát hiện, xử lý một số vụ việc vi phạm trong quá trình thực thi nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng, cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Cấp ủy các cấp đã kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với 7 tổ chức Đảng, 359 đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đối với 34 đảng viên, trong đó khiển trách 14 trường hợp, cảnh cáo 9 trường hợp, khai trừ 11 trường hợp, đình chỉ sinh hoạt đảng 10 trường hợp. Cũng qua kiểm tra, giám sát, cấp ủy đánh giá đúng tình hình, phát hiện những cơ chế, chính sách chưa phù hợp, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh kịp thời; phát hiện, uốn nắn những lệch lạc, hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành; khuyến khích những cách làm mới, hiệu quả giúp các cấp ủy kịp thời có giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng trong thời gian tiếp theo.
Cùng với đó, Quảng Ninh cũng đẩy mạnh thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch; tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đối thoại với người dân, tạo điều kiện cho người dân hiến kế, hiến công, của để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Công tác cải cách hành chính cũng đã gần dân và vì dân hơn. Quảng Ninh đã thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và ở 14 huyện, thị xã, thành phố, đồng thời kết nối liên thông với 186/186 bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại thuộc UBND cấp xã. Mô hình này được thực hiện theo nguyên tắc “4 tại chỗ”, tức là: Tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, trả kết quả ngay tại chỗ. Cách làm này góp phần tăng tính minh bạch, phát huy vai trò giám sát của người dân và hướng tới sự hài lòng của người dân, cũng như doanh nghiệp. Chỉ số CCHC (PAR INDEX) của tỉnh luôn tăng. Năm 2012, Quảng Ninh xếp thứ 19 và lùi xuống vị trí 23 vào năm 2013, nhưng 2 năm gần đây, Quảng Ninh đã bứt phá mạnh mẽ và giữ vững vị trí quán quân. Chỉ số SIPAS, tỷ lệ hài lòng của người dân khá cao, đạt 92,88%, đứng thứ 5 toàn quốc.
Đồng thời, tỉnh cũng tạo điều kiện phát huy vai trò của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Nhận xét của cấp ủy nơi cư trú với đảng viên là cơ sở, tiêu chí quan trọng để đánh giá, phân loại chất lượng đảng viên hàng năm. Đặc biệt, ngay từ năm 2009, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã chỉ đạo MTTQ và các cấp ủy thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh chủ chốt do HĐND cấp xã bầu và thí điểm lấy ý kiến đóng góp đối với một số chức danh công chức chuyên môn cấp xã, đem lại hiệu quả thiết thực, là một chủ trương hợp lòng dân.
Qua khảo sát, niềm tin của nhân dân Quảng Ninh đối với Đảng tăng lên, tỷ lệ từ 73,3% năm 2016 lên 79% năm 2017 và đến năm 2018 là 85,1%. Đây chính là một thành công của tỉnh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ "Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Ðảng với nhân dân..." mà Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng đã khẳng định.
Bài 4: Hoàn thành trọng trách lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
Hoài Anh - Bảo Bình
[links()]