Bên nồi bánh chưng ngày Tết...

Từ bao đời nay, bánh chưng đã trở thành món ăn cổ truyền không thể thiếu trong gia đình Việt. Tuy vậy, ở mỗi vùng miền lại có các cách gói bánh khác nhau, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, chứa đựng những mong ước về cuộc sống no đủ, hạnh phúc…

Hầu hết bánh chưng của các dân tộc đều có gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn được gói trong lá dong hoặc các loại lá rừng, sao cho bánh có màu xanh đẹp mắt. Đây đều là những nguyên liệu sẵn có, quen thuộc với đời sống của người dân.

Nếu bánh chưng của người Kinh vẫn giữ nét đặc trưng với hình dạng vuông vức thì bánh chưng của đồng bào dân tộc Dao lại có hình trụ dài khoảng 15-20cm, đường kính khoảng 8cm. Ngoài gạo, đỗ xanh và thịt lợn, người dân còn cho thêm gừng thái nhỏ, lá cơm lông, một loại lá rừng đặc trưng ở miền núi. Lá cơm lông có mùi thơm như lá nếp, được giã nhỏ, trộn với thịt làm nhân bên trong khiến vị bánh thơm đặc trưng, ăn nhiều không bị ngán. Sau khi luộc chín, bánh chưng có màu xanh nhạt bọc xung quanh nhân bánh màu đỏ rực nhìn rất bắt mắt.

Đồng bào dân tộc Dao gói bánh chưng chuẩn bị cho ngày Tết.
Đồng bào dân tộc Dao gói bánh chưng chuẩn bị cho ngày Tết.

Nếu theo phong tục của người Kinh, bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh giầy tượng trưng cho trời thì với người dân tộc Tày xa xưa, bánh chưng dài tượng trưng cho bố, bánh chưng tròn tượng trưng cho mẹ. Theo bác La Thị Hồng, thôn Chang Nà, xã Tình Húc, huyện Bình Liêu: Mỗi cặp bánh là sự tưởng nhớ của con cháu đến tổ tiên đã sinh ra và gửi gắm ước vọng về cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc. Mặc dù ngày nay, người dân chỉ còn gói bánh chưng dài với nguyên liệu là gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn và lá cơm lông nhưng thực tế, bánh chưng của người dân tộc Tày trước kia  rất độc đáo mà một số gia đình vẫn còn lưu giữ. Ngoài gạo nếp, nguyên liệu chính để làm nhân bánh là cá suối. Những con cá to chừng hai ngón tay còn tươi, được người dân chọn lựa kỹ càng, xếp ngay ngắn dọc theo chiều dài của bánh. Theo quan niệm của người Tày, cá sẽ mang lại nhiều may mắn, thuận lợi trong năm mới.

Bánh chưng bố, mẹ được bày trên bàn thờ tổ tiên của dân tộc Tày.
Bánh chưng được bày trên bàn thờ tổ tiên của dân tộc Tày.

Vào những ngày cuối năm, từ thành phố đến bản làng, người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh của nồi bánh chưng, bếp lửa hồng với làn khói xanh mang theo mùi nếp mới thơm lừng. Dù mỗi vùng miền có phong tục gói bánh khác nhau, nhưng nồi bánh chưng chính là biểu tượng cho sự gắn kết các thành viên trong gia đình, quây quần hạnh phúc. Đó là nỗi nhớ khắc khoải của những người con xa quê, mong ngày trở về được ngồi bên nồi bánh chưng, tận hưởng Tết cổ truyền của dân tộc.

Chị Nguyễn Khánh Chi, Việt Kiều hiện đang sinh sống tại Thụy Điển chia sẻ: Mỗi dịp Tết đến, gia đình tôi đều chuẩn bị bánh chưng, cành đào, bánh kẹo, cùng nhau quây quần đón Tết. Dù cuộc sống đã đủ đầy, nhưng điều khiến tôi nhớ nhất khi xa Việt Nam chính là mùi khói bếp bên nồi bánh chưng, mùi củi cay cay với mùi bánh chín thơm nức. Dù nhiều lúc mắt đã díp lại vì buồn ngủ nhưng tôi vẫn cùng anh chị kể chuyện trông nồi bánh cả đêm. Tôi nhớ cả cái lạnh miền Bắc và không khí ấm áp khi mọi người trong gia đình cùng nhau trò chuyện, chúc Tết… Những kỷ niệm chính là động lực thôi thúc tôi trở về bên gia đình.

Các đoàn viên, thanh niên tỉnh đoàn chuẩn bị bánh chưng để trao tặng cho trẻ em nghèo.
Các đoàn viên, thanh niên Tỉnh đoàn chuẩn bị bánh chưng để trao tặng cho trẻ em nghèo.

Bánh chưng không chỉ chứa đựng ý nghĩa niềm vui đoàn tụ bên gia đình mà còn mang theo nhiều ý nghĩa về yêu thương, sẻ chia. 120 chiếc bánh do chính các đoàn viên, thanh niên Tỉnh đoàn dành tặng cho trẻ em khó khăn vùng cao của huyện Hoành Bồ chính là món quà Tết chứa đựng những ý nghĩa ấy. Món quà tuy nhỏ nhưng là tấm lòng của nhưng người trẻ thể hiện sự chung tay, góp sức, mang đến một cái Tết ấm áp hơn cho cộng đồng. Bên cạnh đó, nhiều đơn vị còn tổ chức thi gói bánh chưng để giúp người dân, nhất là các em nhỏ, có cơ hội hiểu hơn về ý nghĩa của bánh chưng ngày Tết, từ đó thêm yêu và tự hào về nền văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Hoàng Quỳnh

Cùng chuyên mục