Nhắc đến Cẩm Phả là nhắc đến một khu khai thác than nổi tiếng; là nhắc đến một trong những “cái nôi” sinh ra giai cấp công nhân Việt Nam. Từ một vùng đất hoang vu, khổ đau, tăm tối, nghèo nàn, Cẩm Phả vùng đứng lên theo cách mạng, là nơi phát sinh, làm nên cuộc Tổng đình công long trời lở đất của hơn ba vạn thợ mỏ năm 1936. Sau ngày giải phóng Vùng mỏ 22-4-1955, Cẩm Phả từng bước ổn định qua thăng trầm, bão táp. Từ một thị xã nhỏ bé bụi bặm, nhà cửa sơ sài, Cẩm Phả anh dũng qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đổi mới đi lên, để hôm nay trở thành thành phố công nghiệp với tương lai rộng mở…
Nhưng còn có một Cẩm Phả của thơ ca. Từ những năm máu lửa, tủi nhục, người cu li than không biết chữ, họ đã có nhiều bài vè, nhiều câu ca dao kể lại cuộc sống lầm than, cay đắng cùm kẹp dưới ách thực dân. Nhiều tác giả đã định hình từ trong cuộc đời gian lao tăm tối ấy như: Võ Huy Tâm, Trần Trọng Biền v.v.. Rồi đến lớp lớp các thế hệ nhà văn, nhà thơ kế tiếp đã tạo những dấu ấn văn chương mà không dễ vùng đất nào cũng có được…
Vậy nên những bài thơ của những người con viết về chính mảnh đất họ hằng yêu dấu mà chúng tôi giới thiệu trong số báo này nhân dịp ngày ra mắt thành phố Cẩm Phả là quá, quá ít ỏi so với thực tế sáng tác của các văn nghệ sĩ suốt chặng đường lịch sử phát triển của thành phố. Rất mong bạn đọc và các bạn viết thông cảm…
(Nhà thơ Trần Tâm chọn và giới thiệu)
Cây phi lao và người yêu
Cây phi lao bên ga Cẩm Phả
Người yêu tôi đẩy xe ở ga
Tôi thương cây phi lao đẹp mà lá cành đặc bụi
Tôi thương em tôi đẹp mà lọ lem suốt ngày
Như cành phi lao vai áo em tôi càng nặng bụi
Ngày ấy càng được nhiều than
Tan tầm em tôi về tắm gội
Trời mưa tươi tốt cho cây
Cây phi lao em tôi đều sạch bụi
Qua một ngày góp cho đất nước tốt tươi
Cây phi lao đẹp càng làm Tổ quốc đẹp
Em tôi đẹp càng làm vui lòng tôi...
Cẩm Phả 1960
Võ Huy Tâm
Ánh lửa
Một vùng đặc sệt sương đêm
Đi trên tầng mỏ như trên lưng trời
Đèn pha sương đục che rồi
Ngập ngừng tay lái mồ hôi ướt đầm
Bỗng từ đâu tiếng cô em
Vòng sang bên trái chạy men theo tầng
Trên tay em lửa bập bùng
Xe đi theo hướng ánh hồng đang lên
Nụ cười ấm áp trong đêm
Xe tôi rẽ ngoặt vượt men chân đồi
Bờ cao bãi thải kia rồi
Vèo vèo gió xoáy trong người lạnh hơn
Nhìn loang loáng nước bùn trơn
Tay em vẽ một cung đường xe quay
Dưới kia mù mịt sương dày
Xe tôi vào số theo tay em lùi
Nâng ben trút đá xuống rồi
Xe đi vẫn vẳng tiếng cười em vang
Bồng bềnh sương trắng đêm than
Năm canh em thắp lửa đan ngang trời...
Cẩm Phả 1978
Trần Ngọc Tảo
Ở Mông dương nhớ Mông Dương
Đã lâu không về
Vẫn có Mông Dương trong nỗi nhớ
Đèn ô tô cắt khúc cung đường
Thợ lò tan ca lập loè đóm thuốc
Tiếng cười giòn đặc quánh trong sương
Nỗi nhớ lại chui lò giếng Mông Dương
Ngày xưa đã sâu giờ sâu thêm nữa
Xin được trong đời vài giờ làm thợ
Để biết thêm bao bí mật con người
Nỗi nhớ đầm đìa áo thợ mồ hôi
Lấp loá miệng cười chỉ than mới biết
Nỗi nhớ thành tiên dưới vòi nước xiết
Ta thành khăn lau những ngực căng phồng
Nỗi nhớ tan vào hoà sắc dòng sông
Tan vào dư âm “Con thuyền không bến” (*)
Mông Dương xa xôi
Mông Dương điểm hẹn
Đã lâu không về...
Ai nhớ ta chăng...?
Cẩm Phả 1998
(*) Tên một nhạc phẩm của Đặng Thế Phong - người đã từng làm phu tại mỏ than Mông Dương.
Ngô Tiến Cảnh
Thành phố của tôi
Thành phố của tôi mang dáng một con tàu
Luôn phải ngược chiều gió
Tiếng động cơ và tiếng mìn phá đá
Là âm thanh khát khao
Tôi lớn lên cùng thành phố của tôi
Thành phố của những người thợ mỏ
Thành phố ngay bờ sóng vỗ
Bàn chân người tiếp nối những gian lao
Thành phố của tôi sinh ra từ những xóm thợ nghèo
Từ vách lán tranh tre, những phận người đau khổ
Những Cọc, những Hòn... lam lũ
Vùng lên thành một ban mai
Tôi lớn lên cùng thành phố của tôi
Thành phố đã từng trong bom dội
Nóng bỏng những ngày vì miền Nam chia lửa
Mẩu than gày thấm máu, lửa và hoa
Thành phố của tôi từ lao khổ sinh ra
Từ những sình lầy thành toà cao ốc
Những phố, những phường, những đèo, những dốc
Thành tên từ thuở ông bà…
Cẩm Phả 2011
Trần Đình Nhân
Lên Tây khe Sim
Bám vào vai một người thợ lò
Trước mỗi lần xe nghiêng xe xóc
Giữa chiều mưa trút nước
Tôi lên Tây Khe Sim
Thùng xe chỗ chật như nêm
Chỗ không người đứng
Mũ thợ mỏ làm bằng nhựa cứng
Theo nhịp lắc dồn lách cách va nhau
Như những cơn mưa lúc chậm lúc mau
Những câu chuyện không đầu không cuối
Ai cũng nghe và ai cũng nói
Bảy cây số dài cứ thế râm ran
Theo nhịp lắc dồn bùn đất bùn than
Từ bánh xe bắn lên từng vệt
Lắng chuyện kể của thợ lò tôi biết
Nỗi khó khăn trong lòng đất lặng thầm
Những phá những phay những mạch nước ngầm
Mùa mưa về trở mình trỗi dậy
Mở lò than qua nơi nhiều đứt gãy
Quần áo các anh ngậm nước ướt ròng
Bảy cây số xe đưa chúng tôi đến điểm dừng
Phút chuẩn bị vào ca khép lại
Sáng trên mũ người thợ lò chói lọi
Những ngọn đèn như những mặt trời trưa
Tây Khe Sim mùa mưa mùa mưa
Một khối than chìm trong ba khối nước
Nắng theo thợ lò đi vào lòng đất
Qua bảy cây số đường xe xóc xe nghiêng.
Cẩm Phả 1981
Ngô Xuân Hội