Cần có một hành lang pháp lý

Trong thời gian qua, tỉnh ta đã triển khai xây dựng và phát triển một số cụm, điểm công nghiệp (C-ĐCN), góp phần tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp về mặt bằng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị máy móc. Bên cạnh đó, chính sự hình thành các C-ĐCN đã làm đổi thay bộ mặt nông thôn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, vấn đề đang được đặt ra hiện nay là công tác quản lý Nhà nước đối với việc xây dựng và phát triển các C-ĐCN này.

Cần có một hành lang pháp lý ảnh 1
Công ty TNHH Sao Vàng thuộc khu công nghiệp Uông Bí.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 11 C-ĐCN tập trung được xây dựng và trong quy hoạch sẽ có thêm 15 C-ĐCN khác với tổng diện tích khoảng 1.300 ha. Tỷ lệ lấp đầy trung bình của các C-ĐCN trên địa từ 40-80%.  Một trong những C-ĐCN hoạt động nổi bật nhất đó là Cụm công nghiệp Kim Sen (Đông Triều) hiện đã thu hút được 28 dự án đăng ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký hơn 1.000 tỷ đồng. Trong số đó, có 9 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giải quyết việc làm mới cho gần 1.500 lao động địa phương. Bên cạnh những C-ĐCN đã có quyết định, trên địa bàn tỉnh hiện đang song hành tồn tại tình trạng C-ĐCN “có trước” và chưa có quyết định thành lập song vẫn hoạt động. Lý do là các cơ sở sản xuất này được đầu tư từ “xa xưa” chưa có quy hoạch phát triển của địa phương, của tỉnh. ở đây có hoạt động của các cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghiệp có giá trị sản xuất công nghiệp tương đối cao và ổn định nhưng với một cơ sở hạ tầng yếu, các yếu tố đảm bảo môi trường chưa được đầu tư đồng bộ. Điển hình như ở phường Cẩm Sơn, TX Cẩm Phả  đã tập trung một số cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghiệp hoạt động ổn định, hướng phát triển tốt như Nhà máy kính, Công ty cơ khí Đông Hà. Tại xã Phương Nam, TX Uông Bí có dự án đầu tư Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ cơ khí Quang Trung, diện tích 61,4ha và các cơ sở sản xuất khác như: Xí nghiệp Xi măng của Công ty cổ phần Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh; Xí nghiệp Đá Uông Bí; Công ty cổ phần đá Phương Nam... Một số C-ĐCN lại triển khai rất trì trệ do chính quyền địa phương không mặn mà như Cụm công nghiệp Yên Thanh rộng 2 ha nhằm thu gom các hộ sản xuất cơ khí, đóng gạch xỉ từ nội thị để giảm bớt ô nhiễm môi trường đô thị thị xã Uông Bí. Dự án này đã quy hoạch khá lâu, được UBND tỉnh Quyết định thành lập từ tháng 8-2003, song đến nay vẫn chưa được san lấp mặt bằng.

Mặc dù, các C-ĐCN đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển chung về kinh tế, xã hội trên địa bàn, tuy nhiên các C-ĐCN này đang tồn tại nhiều vấn đề cần quan tâm mà xuất phát điểm là do thiếu sự quản lý, điều hành ở cấp vĩ mô của các cơ quan quản lý Nhà nước. Trước hết cần phải nói đến những bất cập trong công tác quản lý và tổ chức hoạt động ở các C-ĐCN. Với một cơ chế quản lý bị buông lỏng, mô hình chưa thống nhất nên phần nào làm cho công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) chưa tốt. Thời gian triển khai thu hồi đất và GPMB thường kéo dài, tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật không đảm bảo. Bên cạnh đó, đại đa số các doanh nghiệp nằm trong C-ĐCN chưa thực hiện đúng các quy định về thời gian lao động, nghỉ ngơi, nội quy lao động, đăng ký thang bảng lương, tham gia bảo hiểm xã hội và thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn lao động. Có địa phương, Ban quản lý dự án C-ĐCN trực tiếp quản lý về mặt Nhà nước, còn nhà đầu tư quản lý và điều hành dự án. Khi dự án đi vào hoạt động thì BQLDA chấm dứt vai trò; doanh nghiệp khi có việc phải tự liên hệ với các cơ quan chức năng để được giải quyết những vấn đề nảy sinh. Có địa phương chưa có cơ quan làm đầu mối quản lý các dự án đầu tư, chưa có sự phối hợp của các cơ quan chức năng nên vấn đề vướng mắc chậm được giải quyết. ở một số địa phương, cơ quan làm đầu mối quản lý các dự án đầu tư là UBND huyện nhưng “màu sắc” chưa rõ nét. Do nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng khó khăn, cơ chế không rõ ràng nên các chủ doanh nghiệp không dám “mạo hiểm” đầu tư.

Đồng chí Trần Đăng Niên, Giám đốc Sở Công thương cho biết: “Hiện nay, hoạt động của C-ĐCN trên địa bàn tỉnh chưa có quy định thống nhất và hoạt động không theo một quy chế nhất định. Ngay cả Nghị định 29/CP về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư cũng không có quy định về việc quản lý loại hình C-ĐCN địa phương. Do đó, chức năng, nhiệm vụ của các sở, ban, ngành và các địa phương trong việc quản lý các lĩnh vực, ngành nghề và quản lý C-ĐCN đôi khi còn chồng chéo, chưa thông suốt. Dẫn đến việc hình thành điểm công nghiệp ở các địa phương còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch và định hướng rõ ràng. Do vậy, để các C-ĐCN phát huy hiệu quả, trước hết cần có sự thống nhất điều hành giữa các cơ quan chức năng liên quan của tỉnh và các địa phương trên cơ sở xây dựng hành lang pháp lý, quy chế hoạt động cụ thể, phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương. Như vậy vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động, vừa giúp cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện giám sát hiệu quả sau đầu tư. Bên cạnh đó, việc thực hiện công khai công tác quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để doanh nghiệp có hướng đầu tư, giảm bớt chi phí và sớm có mặt bằng đi vào sản xuất. Đối với các địa phương cần rà soát nhu cầu mặt bằng sản xuất tại địa phương có tính tới sự liên kết vùng; xây dựng cơ chế chính sách để huy động các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng các C-ĐCN...”.

Như vậy, việc xây dựng và phát triển các CĐCN trên địa bàn tỉnh đang rất cần một cơ chế quản lý phù hợp và một hành lang pháp lý. Đây chính là điều kiện cần và đủ đối với sự phát triển bền vững của các C-ĐCN hiện nay.

Cùng chuyên mục