Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện...

Được Hội Cựu chiến binh TP Hạ Long giới thiệu, chúng tôi tìm đến ngôi nhà 3 tầng trong chợ Cột 3 ở phường Hồng Hải để nghe một người lính pháo binh già kể chuyện chiến đấu ở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tiếp chúng tôi là một cụ già nhưng tráng kiện, tóc bạc phơ. Cụ cười cởi mở rồi nói: “Mình vừa đi tập thể dục dưỡng sinh về”. Rồi cụ thoăn thoắt lên tầng trên để lấy tài liệu là những trang nhật ký cuộc đời người CCB già có 59 năm tuổi Đảng, 84 tuổi đời. Đó là cụ Đinh Trọng Lương (ảnh).

CIMG4860.jpg

Nhật ký của cụ Lương chỉ là mấy trang giấy học sinh được viết những dòng chữ nắn nót rất đẹp. Nhật ký chép rằng khi đủ 18 tuổi, cậu học sinh lớp 6 cấp 2 (hệ 9 năm) ở vùng kháng chiến Nam Trực, Nam Định, gia nhập quân đội thuộc Trung đoàn bộ binh 34 độc lập chuyên đánh ở vùng Hà Nam Ninh cũ. Cụ kể:

- Ít người biết sự ra đời của Trung đoàn pháo binh cơ giới “lựu pháo” của QĐND Việt Nam được thành lập thế nào. Mình vào lính của Trung đoàn 34 được 1 tháng thì được hành quân lên Nước Hai,  Cao Bằng để học “lớp địa hình pháo binh” trong 2 tháng. Rồi cả trung đoàn “rồng rắn” hành quân bộ từ Cao Bằng sang Hà Giang qua Nguyên Bình, qua mỏ thiếc Tĩnh Túc, vượt cầu Thanh Thuỷ sang Trung Quốc để học sử dụng pháo 105 trong 2 tháng. Tháng 9-1951, cả Trung đoàn về nước. Còn mình lại được học làm lính quan trắc pháo binh tại Trường lục quân đến tháng 12-1951 về lại đơn vị. Đến bấy giờ mới được bắn đạn thật lần đầu tiên. Hồi hộp lắm, chưa biết tiếng nổ của pháo 105 to như thế nào nên dẫu là lính quan trắc mình vẫn phải lấy bông nút lỗ tai. Nghĩ lại mà buồn cười cho ngày đầu bắn đạn thật.

- Sao cụ bảo tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ những 4 tháng 20 ngày mà Chiến dịch Điện Biên Phủ chỉ diễn ra có 56 ngày đêm?

- Số là thế này: Cả Trung đoàn “lựu pháo” 105 ly được lệnh lên Điện Biên từ 27-10-1953. Chính là mở đầu cho việc “kéo pháo vào” theo chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh”. Quãng đường chỉ có 500km mà phải mất 10 đêm! Hành quân bằng ô tô - mà chậm như đi bộ có lý do của nó. Đi đêm mà ô tô chỉ được phép bật đèn gầm, không được phép bật đèn pha vì sợ địch phát hiện ra. Nếu có pháo sáng thì cả đoàn phải dừng lại ngay. Ấy là nhờ dân quân được bố trí dọc đường đoàn xe hành quân, khi có pháo sáng của địch thì dân quân bắn súng báo hiệu.

Đường lên Điện Biên công binh mới mở chỉ rộng khoảng 3m. Pháo cao xạ rộng 2,8m còn lựu pháo rộng 2m cho nên xe ô tô phải men theo mép đường mà đi nên chậm không có gì lạ. Trên đường lên đèo Pha Đin dài 32km, cao 1.000m gặp bom nổ chậm thì bộ binh có thể né sang bên đường đồi mà đi. Còn xe kéo pháo chỉ có cách chạy thật chậm, hơn cả đi bộ mà leo qua bom với rung động nhẹ nhất không gây kích nổ được. Đa số đường là dốc, có đoạn đường dốc ngược, mỗi xe phải cử hai chiến sĩ khoác mảnh vải trắng đi lần theo ta luy dương và ta luy âm ngay bên cạnh xe, nên xe kéo pháo bò ra đường là lẽ đương nhiên. Có đoạn dốc quá thì chung tay mà kéo pháo lên. Mỗi nhịp hô chỉ nhích được 10cm, có khi pháo cứ ỳ ra không chuyển động. Các anh nghe bài Hò kéo pháo thì biết. Ngày 14-1-1954, Trung đoàn đến Bản Tấu, thì ngày 16-1-1954 tôi đã cùng Đại đội trưởng Vũ Cao leo lên sườn đồi phía tây bắc của đồi Độc Lập để trinh sát. Đồi Độc Lập chằng chịt dây thép gai, vật liệu xây dựng để ngổn ngang, có cả máy bay 2 thân to và trắng đậu ở sân Đồn.

Thế nhưng ngày 26-1-1954, Trung đoàn lại được lệnh kéo pháo ra để thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc” do Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định. Kéo pháo ra gian khổ chẳng kém khi kéo pháo vào. Trung đoàn thiết lập trận địa cách đồn Him Lam từ 4 đến 5km (pháo 105 ly có thể bắn xa 11km). Tết Giáp Ngọ 1954, đơn vị ăn Tết tại Điện Biên, chiến sĩ được phát bánh chưng, bánh chè lam, cơm không có rượu mừng xuân, chỉ có thịt ngựa kho thôi.

Khi kéo pháo ra, công binh đã chuẩn bị cho lựu pháo những căn hầm vững chãi, chỉ để một ô cửa nhỏ để nòng pháo hướng về đồn địch. Ngày 13-3-1954 là một “ngày lịch sử” của Trung đoàn “lựu pháo” đầu tiên của QĐND Việt Nam vì được lệnh phát hoả trận đánh lịch sử Điện Biên Phủ. Mở đầu, cả 12 khẩu pháo của Trung đoàn đồng loạt cấp tập nã pháo vào cứ điểm Him Lam, mỗi khẩu bắn 5 phát đạn. Đồn Him Lam rung chuyển, đất đá tung lên trời, vật liệu xây đồn cũng chung một số phận như hàng rào dây kẽm gai. Chúng tôi sung sướng vô cùng khi lần đầu tiên được dội lửa căm thù lên đồn địch, trả thù cho bao làng quê. Dứt tiếng pháo gầm vang là tiếng hô xung phong của bộ binh Đại đoàn 312. Nửa đêm hôm ấy Him Lam thất thủ. Bộ đội ta đã chiếm lĩnh được cứ điểm đầu tiên của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nơi mà cả Mỹ, Pháp và chính quyền bù nhìn Bảo Đại, tay sai của thực dân Pháp huênh hoang là “bất khả xâm phạm”.

Ngày hôm sau 14-3-1954, Trung đoàn “lựu pháo” lại dội lửa lên cứ điểm đồi Độc Lập. Qua ống nhòm, tôi thấy từng lớp đất đá bay lên, cả cột treo cờ “tam tài” của quân Pháp cũng đổ gục. Trong ngày hôm đó, ta tiêu diệt đồn Độc Lập. Rồi ngày 16-3-1954, đồn Bản Kéo cũng chung một số phận với Him Lam, Độc Lập.

Từ 30-3 đến hết tháng 4-1954, pháo binh của ta liên tục nã lúc cấp tập, khi cầm canh vào các cứ điểm xung quanh khu trung tâm Mường Thanh, nơi có sân bay và hầm chỉ huy của tướng Đờ-cát theo yêu cầu của các đơn vị. Về số lượng, pháo ta ít hơn địch, đạn cũng thế nên bắn phải dè sẻn. Ta chỉ có pháo 105 ly còn địch có cả đại bác 155 ly. Song lính ta đã có lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Lại được Bác tặng cờ “Quyết chiến quyết thắng” nên bộ đội xung trận với khí thế đạp lên đầu thù mà giành chiến thắng. Ngày 6-5-1954, ta cho nổ tung cứ điểm A1 bằng một khối chất nổ hàng tấn. Hầm ngầm cố thủ cũng không cứu vãn được số phận của những thằng Tây xâm lược. Sáng 7-5, ta chiếm được A1 thì chiều 7-5-1954, ta bắt sống được toàn bộ Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, kết thúc 56 ngày đêm của chiến dịch lịch sử, xoá sổ Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của kẻ địch.

Tôi đã chứng kiến đồng đội của tôi - những người lính từ nông dân mà ra - hùng dũng áp giải từng đoàn tù binh Pháp. Mà sao trông chúng thảm hại thế. Chẳng bù cho những lúc chúng ngang nhiên tàn sát dân ta.

Kết thúc Chiến dịch Điên  Biên Phủ, tôi được tặng 2 bằng khen của Bộ Tư lệnh pháo binh, 1 bằng khen của Đại đoàn 351 - đại đoàn công - pháo. Tấm huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên đã gắn trên ngực áo của tôi trong suốt 60 năm qua.

Trung đoàn của tôi mãi đến 18-5-1954 mới rời Điện Biên về Tuyên Quang. Và vinh dự cho tôi, đơn vị của tôi lại được về tiếp quản Khu mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả vào tháng 5-1955.

Sau 10 năm trong Quân đội, đến năm 1960 tôi ra quân, về làm việc tại Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Quảng Ninh. Đến năm 1990 về hưu vẫn ở lại gắn bó với mảnh đất Hạ Long đầy tình nghĩa này.

Nguyễn Gia Phong CTV (ghi)

Cùng chuyên mục