Tôi gặp ông tại nhà riêng ở phường Cao Thắng, TP Hạ Long. Mái tóc ông đã ngả sang màu mây trắng, chẳng còn nét phong sương của anh lính giải phóng quân khi chụp ảnh bên chiếc xe tăng trong khuôn viên của Bộ Tổng tham mưu ngụy quân Sài Gòn. Đó là CCB Binh đoàn Than năm xưa, ông Bùi Duy Thinh. Dẫu thời gian đã trôi qua gần 40 năm, song kỷ niệm giải phóng Sài Gòn ngày 30-4-1975 vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của ông Thinh, dù đã 70 tuổi. Ông kể:
- Tôi là thợ lái máy xúc mỏ Hà Tu, khi ấy tôi mới 24 tuổi. Từ biệt chiếc máy xúc E2 (loại E250 của Tiệp Khắc), xung phong vào đoàn quân của những người thợ mỏ Quảng Ninh chi viện cho chiến trường miền Nam. Tôi lấy vợ mới được 20 ngày, song đúng ngày 30-7-1967, chúng tôi tập trung ở chân núi Bài Thơ - nơi Thị đội Hồng Gai sơ tán - rồi qua phà Bãi Cháy, lên những chiếc xe gấu chở người của mỏ về tập trung ở Yên Tử, Đông Triều. Ngay sau đó chúng tôi lại hành quân bộ về vùng núi huyện Lạc Thuỷ (Hoà Bình) luyện tập quân sự. Ngày ngày ba lô trên lưng luyện cho “chân đồng vai sắt” để chuẩn bị cho những ngày “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Chúng tôi nhớ mãi ngày 15-12-1967, tại lễ tuyên thệ xuất quân, chúng tôi được các đồng chí lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND, các đoàn thể, Tỉnh đội Quảng Ninh và đại diện ngành Than lên động viên, tặng quà và đặt tên Binh đoàn Than để nhắc nhở chúng tôi phát huy truyền thống thợ mỏ kiên cường, góp phần đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào”.
120 ngày chúng tôi hành quân bộ vào Nam. Sau này nhẩm tính lại, có lẽ suốt từ năm 1967 đến 1975, tôi đã đi bộ quãng đường cũng gần vạn km. Qua sông Bến Hải, chúng tôi nếm trận bom Mỹ đầu tiên. Chúng đã theo dõi “Đội quân đặc nhiệm” của thợ mỏ Quảng Ninh vào chi viện cho chiến trường. Binh đoàn Than được biên chế vào Sư đoàn 325 thuộc Mặt trận B5. Trận đầu tiên tôi được chiến đấu đánh cao điểm 833 ở tây bắc Tà Cơn, Làng Vây. Khi đó tôi là binh nhất, tiểu đội phó lính trinh sát đại đội 78. Sau trận này, tôi được công nhận là Dũng sĩ diệt Mỹ của Chiến dịch Mậu Thân 1968. Tiếp đó, chúng tôi lại hành quân bộ về huyện Lệ Thuỷ (Quảng Bình), bổ sung cho Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 thuộc Quân đoàn 3. Binh đoàn Than đã được bổ sung cho nhiều đơn vị Quân giải phóng suốt từ miền Trung cho đến đồng bằng Nam Bộ. Riêng tôi theo Trung đoàn 28, Sư đoàn 10 hành quân lên Tây Nguyên. Cho đến tháng 10-1968, mới 1 tuổi quân tôi đã là Trung đội phó bộ binh Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 28. Tôi đã tham gia chiến đấu các trận đánh Plây Cần, Ngọc Hồi, Sa Thầy, Kon Tum… dọc Tây Nguyên, tham gia các chiến dịch Xuân Hè 1969, Thu Đông 1970-1971, Xuân 1972, các chiến dịch năm 1973, 1974 đánh địch lấn chiếm các vùng giải phóng của ta sau Hiệp định Pa-ri 1972.
Sang năm 1975, tôi là Trợ lý 1- Trưởng tiểu ban quân lực của Trung đoàn 28, tham gia giải phóng Buôn Ma Thuột. Ngày 10-3-1975, đơn vị vượt qua đèo Phượng Hoàng đánh sân bay Chư Cúc, giải phóng Nha Trang, tiến quân thần tốc giải phóng các tỉnh miền Trung và đúng 6 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, đơn vị của tôi đã có mặt ở ngã tư Bảy Hiền Sài Gòn, rồi đánh chiếm Trường hạ sĩ quan Ngụy, được cô Vân biệt động Sài Gòn (sau này là hình tượng nhân vật chính trong phim Cô Nhíp) dẫn đường, vượt qua cây cầu gẫy. Không kịp đánh sân bay Tân Sơn Nhất, theo lệnh của Sư đoàn, chúng tôi linh hoạt đánh chiếm trụ sở Bộ Tổng tham mưu Ngụy quân Sài Gòn. Khi lá cờ của Mặt trận giải phóng tung bay trên nóc trụ sở Bộ Tổng tham mưu Ngụy quân Sài Gòn, lúc đó là 11 giờ 15 phút. Khi đó, chỉ còn mình tôi là lính của Binh đoàn Than (trong tổng số 50 người bổ sung cho Trung đoàn 28) có mặt tại Bộ Tổng tham mưu Ngụy, được chứng kiến giờ phút lịch sử Sài Gòn được giải phóng đúng 11 giờ 30 ngày 30-4-1975.
Gần 10 năm chinh chiến, ông Bùi Duy Thinh đã vượt qua suốt chiều dài đất nước bằng đôi chân của người thợ mỏ, đánh gần 70 trận. Và may mắn sao khi qua không biết bao lần pháo dập bom vùi, đã từng chôn cất bao đồng đội, cứu sống nhiều đồng đội khác mà ông vẫn toàn thân, chỉ bị thương tật ở mức 4/4. Ông Bùi Duy Thinh được thưởng nhiều huân chương, danh hiệu dũng sĩ, còn giấy khen thì nhiều lắm. Ông đã trở thành người tham gia viết sử cho Trung đoàn 28 và Sư đoàn 10. Trở về với Đất mỏ, ông Thinh về làm việc tại Mỏ than Cao Thắng. Dù ở cương vị Chủ tịch Công đoàn mỏ, Trưởng ban liên lạc Binh đoàn Than nhiều năm hay khi về hưu tham gia nhiều khoá là khu trưởng khu phố thì phẩm chất anh hùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã giúp ông hoàn thành nhiệm vụ được Đảng tin cậy, đồng đội tin yêu và nhân dân quý mến.
Bao năm chinh chiến qua đi, ông Bùi Duy Thinh vẫn không quên được kỷ niệm chiến trường và giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn - niềm vui đến trào nước mắt của người lính đã vượt qua một chặng đường gian khổ, chiến đấu vì độc lập của Tổ quốc. Bây giờ người CCB của Binh đoàn Than năm xưa vui với hạnh phúc gia đình, bên người vợ thuỷ chung chờ chồng, cùng ông nuôi con cái trưởng thành góp phần xây dựng Vùng mỏ ngày một tươi đẹp hơn.
Nguyễn Gia Phong (CTV, ghi)