Trong hơn 2 thập kỷ qua, Quảng Ninh kiên định thực hiện chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững. Từ một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên, tỉnh đã từng bước tái cấu trúc theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai khoáng, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, chuyển đổi số. Sự chuyển dịch ấy diễn ra liên tục, có định hướng rõ ràng và phản ánh một quá trình tái cấu trúc nền kinh tế mang tính chiến lược, lâu dài.
Tái cấu trúc nền kinh tế
Trước năm 2010, cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh mang đậm dấu ấn của mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, đặc biệt là than. Giai đoạn 2006-2010, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 55,46% trong cơ cấu kinh tế; dịch vụ - du lịch chiếm 38,07%; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6,47%. Nguồn thu ngân sách của tỉnh vẫn phụ thuộc đáng kể vào khu vực khai thác than và các hoạt động liên quan đến tài nguyên khoáng sản. Mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác đã tạo nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển và bảo đảm cân đối ngân sách trong một thời kỳ. Tuy nhiên, đến cuối thập niên 2000, những giới hạn của mô hình này dần bộc lộ. Đó là hiệu quả sử dụng tài nguyên chưa tương xứng với tiềm năng; giá trị gia tăng còn thấp do tỷ trọng chế biến sâu hạn chế; áp lực môi trường tại các khu vực khai thác và đô thị công nghiệp ngày càng gia tăng. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh phương thức phát triển, từng bước chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào giá trị gia tăng, dịch vụ và các ngành kinh tế bền vững.
Chính trong bối cảnh đó, HĐND tỉnh sớm xác định nhu cầu chuyển đổi mô hình phát triển. Nghị quyết số 20/2011/NQ-HĐND ngày 18/10/2011 của HĐND tỉnh về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015 đã nêu rõ định hướng điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, coi trọng phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, nâng cao giá trị khu vực dịch vụ - du lịch và tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng chất lượng hơn. Nghị quyết này được ban hành ngay đầu nhiệm kỳ HĐND tỉnh khóa XII, thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu vào trọng tâm chỉ đạo từ rất sớm, tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho quá trình tái cấu trúc nền kinh tế sau này.
Thực tiễn giai đoạn 2011-2015 cho thấy cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh bắt đầu điều chỉnh theo hướng nâng cao vai trò của khu vực dịch vụ. Tỷ trọng dịch vụ trong GRDP tăng từ 38,9% (năm 2013) lên 44,2% (năm 2014), phản ánh sự mở rộng mạnh của thương mại, du lịch và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Đây là giai đoạn dịch vụ tăng nhanh, tiệm cận tỷ trọng của khu vực công nghiệp - xây dựng, góp phần giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và tạo tiền đề cho quá trình tái cơ cấu sâu hơn trong những năm tiếp theo.
Từ năm 2015 trở đi, chuyển dịch cơ cấu được thúc đẩy mạnh mẽ hơn khi tỉnh đẩy nhanh tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Trọng tâm là đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng chiến lược, hình thành các trục kết nối liên vùng và quốc tế, như cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, Hạ Long - Vân Đồn, Vân Đồn - Móng Cái; Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn; Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, cùng hệ thống cảng biển và cửa khẩu được nâng cấp. Hạ tầng giao thông, logistics không chỉ cải thiện năng lực kết nối, mà còn tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển dịch vụ, thương mại và thu hút các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, qua đó từng bước chuyển dịch động lực tăng trưởng từ khai thác tài nguyên sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Đến năm 2020, quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn của Quảng Ninh đã tăng đáng kể so với giai đoạn trước năm 2010, đưa tỉnh trở thành một trong những trung tâm kinh tế năng động của khu vực phía Bắc. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2020 đạt hơn 49.000 tỷ đồng, cao gấp hơn hai lần so với mức thực hiện năm 2010, cho thấy năng lực tạo nguồn thu và sức bật của nền kinh tế đã được nâng lên rõ rệt.
Bước sang năm 2024, đà tăng trưởng của Quảng Ninh tiếp tục được duy trì trong bối cảnh kinh tế chung còn nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh tăng 8,42%; quy mô nền kinh tế đạt 347.500 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người vượt mốc 10.000 USD; năng suất lao động xã hội đạt gần 570 triệu đồng/người. Những chỉ số này không chỉ phản ánh quy mô kinh tế ngày càng mở rộng, mà còn cho thấy chất lượng tăng trưởng được cải thiện, hiệu quả sản xuất và năng lực ứng dụng khoa học công nghệ trong các ngành chủ lực từng bước được nâng lên.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự điều chỉnh trong bối cảnh công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng mạnh. Năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 4,5% GRDP; công nghiệp - xây dựng chiếm 50,8%; dịch vụ chiếm 33,4%; còn lại là thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm. So với giai đoạn trước năm 2015, cơ cấu kinh tế không chỉ thay đổi giữa các khu vực, mà còn chuyển dịch ngay trong nội bộ ngành công nghiệp, khi tỷ trọng đóng góp của chế biến, chế tạo tăng lên đáng kể, làm thay đổi tương quan chung trong cơ cấu. Trong tổng thể đó, khu vực dịch vụ vẫn giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm và đóng góp vào tăng trưởng, đặc biệt ở các lĩnh vực du lịch, thương mại và logistics.
Sang năm 2025, kinh tế tỉnh bứt phá mạnh mẽ với GRDP đạt 11,89%, cao nhất cả nước, cao nhất trong giai đoạn 2020-2025. Quy mô nền kinh tế đạt gần 368.445 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 10.402 USD. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 85.050 tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 58% so với năm 2024 và vượt 54% dự toán Trung ương giao. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12,32%. Thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách trong nước đạt 523.447 tỷ đồng, gấp 16,7 lần so với năm 2024.
Điểm nổi bật nhất trong cơ cấu tăng trưởng năm 2025 là công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 33,69%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chính. Quảng Ninh đẩy mạnh thu hút các dự án sản xuất linh kiện điện tử, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu mới, thiết bị công nghệ cao tại các khu công nghiệp như Sông Khoai, Đông Mai, Texhong Hải Hà… Việc hình thành chuỗi giá trị sản xuất - xuất khẩu giúp gia tăng giá trị nội địa và tạo việc làm có chất lượng.
Khu vực dịch vụ cũng phát triển mạnh mẽ. Năm 2025, du lịch đạt hơn 21,28 triệu lượt khách; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trên 20% so với năm 2024. Sự bứt phá này không chỉ phản ánh sức hấp dẫn của điểm đến, mà còn cho thấy vai trò ngày càng lớn của dịch vụ trong cơ cấu kinh tế.
Trong khi đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản dù chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng được tái cơ cấu theo hướng giá trị cao, gắn với kinh tế biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu. Điều này giúp khu vực nông nghiệp đóng góp ổn định cho an sinh và phát triển bền vững.
Từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, Quảng Ninh đã từng bước chuyển sang cơ cấu kinh tế dựa vào công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ, với quy mô ngày càng mở rộng. Tỷ trọng khai khoáng giảm dần, trong khi các ngành có giá trị gia tăng cao giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu. Sự chuyển dịch này phản ánh quá trình tái cơ cấu theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, phù hợp với định hướng phát triển từ “nâu” sang “xanh” mà tỉnh đã xác định qua nhiều nhiệm kỳ.
Nâng chất mô hình tăng trưởng
Quảng Ninh xác định tăng trưởng xanh là định hướng phát triển xuyên suốt trong chiến lược dài hạn. Tỉnh đã ban hành và triển khai kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2023-2030, với mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng giảm cường độ phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy phát triển năng lượng sạch, sản xuất và tiêu dùng bền vững, từng bước triển khai kinh tế tuần hoàn. Các mục tiêu môi trường được lồng ghép vào quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tăng trưởng gắn với kiểm soát tác động sinh thái.
Trong điều kiện là địa phương sở hữu Di sản thiên nhiên thế giới và Di sản văn hóa thế giới, đồng thời định hướng phát triển mạnh kinh tế biển và du lịch chất lượng cao, yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và bảo tồn di sản được xác định là nguyên tắc nền tảng của phát triển bền vững.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Quảng Ninh định hướng phát triển các khu công nghiệp theo mô hình sinh thái, gắn với yêu cầu sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng lượng và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường ngay từ khâu thẩm định, lựa chọn dự án đầu tư. Tỉnh ưu tiên thu hút các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, qua đó từng bước điều chỉnh cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng các ngành tiêu tốn nhiều tài nguyên, tiềm ẩn nguy cơ phát thải lớn. Định hướng này nhằm bảo đảm tăng trưởng công nghiệp đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và kiểm soát tác động môi trường trong dài hạn.
Trong lĩnh vực đô thị và du lịch, tỉnh ưu tiên đầu tư hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải, rác thải và các hạng mục hạ tầng môi trường, bảo đảm năng lực tiếp nhận phù hợp với tốc độ phát triển. Các khu, điểm du lịch trọng điểm được rà soát, kiểm soát quy mô khai thác và nâng cao tiêu chuẩn môi trường nhằm hạn chế áp lực lên tài nguyên và cảnh quan. Định hướng phát triển du lịch chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng, tập trung đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng giá trị chi tiêu, qua đó nâng hiệu quả kinh tế đồng thời bảo đảm yêu cầu bảo tồn và phát triển bền vững.
Cùng với kinh tế xanh, kinh tế số được xác định là trụ cột quan trọng. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030 đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt 30%. Để đạt được mục tiêu này, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ trong chính quyền, doanh nghiệp và xã hội.
Chính quyền số với dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu dùng chung, quản lý điều hành trên nền tảng số góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính minh bạch. Trong doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, quản trị, thương mại điện tử, thanh toán không tiền mặt giúp nâng cao năng suất và giảm chi phí. Đối với du lịch, việc ứng dụng công nghệ trong quảng bá, bán vé điện tử, quản lý điểm đến, phân tích dữ liệu du khách, giúp nâng cao trải nghiệm và hiệu quả kinh doanh. Trong công nghiệp, tự động hóa và quản trị sản xuất thông minh góp phần tăng năng suất lao động.
Sự kết hợp giữa kinh tế xanh và kinh tế số tạo nên nền tảng mới cho tăng trưởng, cụ thể là tăng giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị tài nguyên, giảm phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm và nâng cao năng suất lao động thông qua công nghệ.
Chuyển dịch để phát triển bền vững
Từ nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên, Quảng Ninh đã đi một chặng đường dài trong tái cấu trúc và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự thay đổi thể hiện rõ ở 3 phương diện: Quy mô kinh tế mở rộng nhanh; cơ cấu chuyển dịch từ dựa vào khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ; mô hình phát triển từng bước hướng mạnh vào xanh hóa và số hóa.
Nếu như trước đây, tăng trưởng phụ thuộc đáng kể vào tài nguyên và đầu tư theo chiều rộng, thì nay động lực được dịch chuyển sang nâng cao giá trị gia tăng, ứng dụng KHCN, cải thiện năng suất lao động và chất lượng môi trường đầu tư. Đặc biệt, việc phát triển kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, công nghiệp công nghệ cao, du lịch chất lượng cao và chuyển đổi số đã mở ra không gian tăng trưởng mới, giảm dần sự phụ thuộc vào lợi thế sẵn có.
Tuy nhiên, để quá trình chuyển dịch thực sự bền vững, Quảng Ninh vẫn đứng trước những yêu cầu mới. Đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực công nghệ cao và nhân lực quản trị; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước để gia tăng giá trị nội địa; tiếp tục cải cách thể chế, xây dựng chính quyền kiến tạo, minh bạch và hiệu quả. Cùng với đó là yêu cầu kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường, bảo tồn di sản, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bao trùm, để tăng trưởng không đánh đổi bằng tài nguyên và chất lượng sống của người dân.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững vì thế không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng, mà được thể hiện ở sự cải thiện về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Quảng Ninh đang từng bước hoàn thiện mô hình phát triển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng suất lao động, kiểm soát tác động môi trường và bảo đảm an sinh xã hội, qua đó củng cố vị thế của tỉnh trong cấu trúc kinh tế vùng và quốc gia.