Chuyện gia đình tôi

Nhà tôi nằm trên một gò bãi sát bờ đê sông Vị. Nói là nhà, chứ thực ra là một cái chòi chăn vịt. Nuôi gần ngàn con vịt, cứ đến mùa lúa chín, khi những cánh đồng nằm trên khu vực quanh nhà đã gặt xong, cha tôi mới lùa vịt đi ra đồng; khi dân làng vào vụ cấy, đàn vịt lại được đưa xuống những bãi sú, bãi vẹt mênh mông ven bờ sông Vị. Mẹ tôi người Trà Cổ, ngày còn nhỏ đã từng theo cha kéo chã, nên việc làm ăn trên sông nước rất thông thạo. Với chiếc thuyền nan mỏng mảnh, ngày nào mẹ cũng kiếm được những giành gion, giành quéo... về cho vịt ăn, nên việc chăn nuôi cũng khá...

Nhà ông bà nội tôi ở trong làng. Ông nội tôi là bộ đội thời chống Mỹ. Ông hai mươi lăm tuổi thì lấy bà, lấy nhau vừa đúng một tuần thì nhập ngũ và biền biệt mãi tới ngày giải phóng miền Nam mới về. Sau lần về ấy mới có cha tôi, ba năm sau có thêm cô Vân. Năm 1998 ông nghỉ hưu với quân hàm thượng tá. Về làng chưa ấm chỗ, ông đã được tổ chức phân công làm Bí thư Đảng uỷ xã. Ông nhiệt tình hăng say trong công việc. Tôi cảm thấy như những sức lực còn lại ông dành hết cho tình yêu quê hương.

Đã từng là lính, rồi là sĩ quan, tất cả mọi việc với ông đều cứ phải là “quân lệnh như sơn”. Khổ nỗi, cái “kỷ luật thép” ấy rất hiệu quả trong quân ngũ nhưng áp dụng vào một miền quê từ bao đời nay lấy nghiệp canh nông là chính xem ra không mấy tác dụng. Đôi lúc ngồi một mình ông nghĩ tới ngày xưa. Ngày xưa, đứng trước hàng quân mọi người chăm chú nghe ông nói, sau đấy công việc cứ thế thực hiện răm rắp. Còn bây giờ, mọi người vẫn nghe ông truyền đạt những chỉ thị, những nghị quyết... nhưng ông có cảm giác họ chỉ “nghe tai này chạy tai kia” mà thôi! Từ đấy, và nhiều bài học khác nữa, ông mới nhận ra rằng, kinh tế cũng là một mặt trận, nhưng mặt trận kinh tế nông nghiệp trong thời đổi mới khó hơn rất nhiều. Ông cảm thấy mình như một thánh đồ bị rút hết phép thông công. Ví như, việc cha tôi làm nhà trái phép, với tư cách Bí thư Đảng uỷ, ông chỉ thị Chủ tịch Uỷ ban cho công an xã đến dỡ bỏ ngay. Ông bảo, thằng Tiến nó là con tôi mà để như thế thì những người khác tôi nói ai nghe? Mọi người nhìn ông ngơ ngác, cứ như ông từ “trên trời rơi xuống”; bởi thực ra cái nhà cha tôi dựng lên nào có khác gì cái chòi chăn vịt, tường đất, mái lợp bro xi măng, diện tích chỉ đủ kê chiếc giường đôi và một bộ bàn ghế nhựa ngồi uống nước thì đáng gì phải cưỡng chế tháo dỡ này nọ? Với lại, trước khi làm nhà, cha tôi cũng đã nói với chính quyền xã là chỉ ở tạm một thời gian...

Ông tôi là thế, còn bà tôi, tiếng là lấy ông nhưng mãi gần cuối đời hai ông bà mới ở gần nhau, bà mới được chăm sóc ông chu đáo. Bà không nói, nhưng tôi biết bà rất khổ sở với cái “phong cách nhà binh” ấy của ông. Ngày mới về, chăn, màn ông bắt bà phải gấp vuông vắn như hòm sớ, mọi thứ phải để đúng nơi quy định; ông bảo để khi cần xử lý tình huống thì không bị cuống… Ăn ngủ cũng phải đúng giờ, sáng phải tập thể dục. Có những hôm trời rét căm căm, ông lôi bà ra ngoài sân cùng chạy mốt hai đến khi túa mồ hôi ra mới thôi. Có lần xã hỗ trợ kinh phí làm nhà vệ sinh, ông lừ mắt quát bà:

- Nhà vệ sinh còn tốt chán, xây kiểu ấy mới lấy được phân. Bà không biết phân người là loại phân đứng đầu các loại phân đấy ư? Ngày xưa, đế quốc Pháp còn mang phơi khô rồi đóng thùng đưa về nước để bón nho, bón táo đấy. Lại nói, cuộc tình của cha mẹ tôi mãi sau này khôn lớn tôi mới được biết. Ngày ấy, cha tôi là bộ đội biên phòng, ba năm ở lính là ba năm canh gác dọc tuyến biên giới. Một hôm trời xâm xẩm tối, cha tôi cùng hai đồng đội nữa đi kiểm tra địa phận được phân công. Hôm ấy, tổ công tác của cha tôi bắt quả tang một người con gái mang hàng trốn thuế sang nước bạn tiêu thụ. (Tôi xin “bật mí” ngay để bạn đọc khỏi tò mò, cô gái này sau chính là mẹ tôi!). Người ấy khai là người Trà Cổ, tên là Miên, nhân viên nhà hàng Hoa Phượng ở một thành phố vùng biên giới. Nhà chỉ có ba chị em, Miên là chị cả. Vì không có tiền chữa bệnh cho bố, đành phải mang thuê số hàng này... Miên vừa nói, vừa khóc và đưa mọi giấy tờ cho cha tôi xem. Miên còn nói thêm: “Đây là lần đầu, nếu các anh thương tình, xong việc em mời các anh xuống tận nhà, lúc ấy hẳn các anh sẽ thông cảm hoàn cảnh của em!”. Vẫn biết, làm như thế là không đúng, nhưng lần ấy cha tôi cùng hai đồng đội nữa đã cho qua... Cho đến một hôm, bạn của cha tôi đi xe máy va quyệt vào một thanh niên, người bạn ấy có mời cha tôi cùng đi xuống nhà người bị nạn giải quyết. Thật không ngờ, người bị nạn lại chính là em trai của Miên…

Tình yêu của cha mẹ tôi bắt đầu là như thế. Nhưng khốn nỗi cả hai bên gia đình đều từ chối. Ông bà ngoại từ chối vì mẹ tôi là người cáng đáng mọi công việc trong gia đình, nhất là lúc ấy ông ngoại đang trong tình trạng thập tử nhất sinh. Còn với ông nội thì khác, ông tôi kiên quyết khước từ lý do là mẹ tôi phục vụ trong nhà hàng, mà phục vụ ở nhà hàng trong con mắt của ông chỉ là “bọn ca-ve” không hơn, không kém; lại cộng với việc buôn bán bất hợp pháp nữa! Lấy nó là rước hoạ, là làm mất hết danh dự của một gia đình có truyền thống cách mạng. Ông tuyên bố với cha tôi một câu xanh rờn: - Mày mà lấy nó tao sẽ từ!

Sắp hết nghĩa vụ, biết đưa về quê tổ chức cưới xin sẽ tan cuộc, cha tôi phải nhờ đơn vị và bạn bè đứng ra lo giúp. Đám cưới cha mẹ tôi, bên nội không có một ai. Để che mắt thế gian, cha tôi buộc phải sử dụng bài “cha thuê, chú mượn”... Cưới xong cũng là lúc cha tôi nhận quyết định xuất ngũ về quê. Và nói sao làm vậy, ông nội tôi kiên quyết không cho cha mẹ tôi ở chung. Hai người phải mượn nhờ đám đất của người chú họ bên bờ đê sông Vị làm nhà. Tôi năm tuổi thì có em, nhưng là em gái. Ông nội tôi là trưởng của dòng họ Vũ Đình, một dòng họ lớn nhất nhì trong làng xã. Mặc dù ngoài miệng nói từ con, nhưng trong lòng ông vẫn để ý… Khi biết mẹ tôi đẻ đứa thứ hai cũng là gái, ông rất buồn. Nỗi buồn ấy lại cộng thêm tin cô Vân đang du học bên Đức yêu con một ông bộ trưởng gì đấy, cả hai đều bỏ học để đi buôn... Ông còn nghe nói, chúng nó đã sống thử với nhau(!). Chẳng hiểu sống thử nghĩa là gì, đến khi tình cờ qua quán ông thợ cạo ở đầu làng, mà mọi người vẫn bảo nơi ấy là “trung tâm nghe nhìn” của xã, ông mới ngớ ra... Về tới nhà, hai tay ông nắm chặt, mặt đanh lại, hàm răng rít lên. Ông quát gọi bà nội, lúc ấy đang sờ sịt, sắp xếp cái gì đó ở trong buồng: “-Con Vân nó hư là do bà!”. Và không để cho bà tiếp lời, ông vơ cả chuyện của cha tôi vào, rồi nói liền một mạch như người độc diễn: “Chúng nó đã phụ công của Đảng và nhà nước nuôi dạy, một lũ vong bản mất hết lập trường giai cấp và tinh thần cách mạng tiến công. Tự do dân chủ không phải để chúng nó muốn làm gì thì làm. Chúng nó đã chà đạp lên nhân cách của tôi...”. Dừng một lát ông nhìn thẳng vào bà, đôi mắt ông tròn vo như lồi ra khỏi khuôn mặt vuông vức có một vết sẹo mang hình dấu sắc kéo dài từ đuôi mắt bên trái xuống tận dái tai, dấu ấn của một thời trận mạc... Rồi ông khóc, lúc này người ông như chùng xuống, trông rất thiểu não chứ không đanh sắt như ban đầu: “-Tôi theo cách mạng để làm gì?! Tôi đánh giặc để làm gì? Thế là công lao của tôi đổ xuống sông, xuống biển hết. Ới con ơi... là con ơi!”.

Vừa khóc, ông vừa nói. Ông ân hận đã không rèn dũa, giáo dục các con đến nơi đến chốn để chúng nó hư hỏng, chúng nó mất lập trường, theo đuôi bọn tư bản v.v.. và v.v.. Ông coi đấy là sự sỉ nhục. Lại đến khi nghe tin cha tôi trả thẻ Đảng thì ông như người khùng, những vết thương cũ được thể hành hạ khiến ông lâm bệnh. Ông xin từ chức Bí thư Đảng uỷ xã...

Trong những ngày ấy, cha mẹ tôi thực sự khó khăn. Nhưng nhờ tình yêu, hai người đã vượt lên tất cả. Có một điều, cha mẹ tôi cùng có suy nghĩ như nhau là đều khát vọng làm giầu, quyết vươn lên chứ không chịu cảnh đói nghèo. Quê nội, thuỷ hải sản lại rất sẵn, nên cha mẹ tôi đã khai thác nguồn hàng này xuất khẩu và giao việc nuôi vịt cho người em họ. Nhờ nguồn gốc quê quán của mẹ, và những năm tháng là lính đóng ở nơi biên ải của cha, nên việc tìm kiếm đối tác rất nhanh. Trước khi làm việc này, cha tôi đã đệ đơn trao lại thẻ Đảng cho tổ chức và nói rằng: “Vì cuộc sống, nếu tôi tiếp tục sinh hoạt sẽ ảnh hưởng tới thanh danh, lợi ích của Đảng. Khi nào Đảng xét thấy tôi có thể làm đầy đủ bổn phận của một đảng viên, lúc ấy sẽ phục hồi cho tôi...”.

Qua vài năm kinh doanh hải sản, mặc dầu cha mẹ không nói, nhưng tôi vẫn biết việc làm ấy có thu nhập rất cao…       

Sông Vị là sông nước mặn. Với nhãn quan kinh tế, cha mẹ tôi xin với xã, nhận thầu đất ven sông làm đầm nuôi tôm, nuôi cá... Nhờ những kinh nghiệm học hỏi được, cùng với nghị lực phi thường, nhiều vụ tôm cá mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Rồi từ nguồn lợi chăn nuôi, thu mua hải sản v.v.. cha tôi đã vay thêm vốn ngân hàng để mở xưởng mộc. Thế là tất cả những người có tay nghề giỏi xưa nay đã từng đi câu cơm thiên hạ đều quay về làm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn TIẾN MIÊN, mà đồng lương vẫn không kém người thiên hạ trả. Hàng mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, chẳng bao lâu công ty của cha tôi đã có những hợp đồng với cả nước ngoài. Làm ăn có lãi cùng với nguồn tiền của cô Vân ở ngước ngoài gửi về trợ giúp, cha tôi đã mua lại toàn bộ số lò gạch của hợp tác xã trong làng thanh lý và mua máy gạt, máy xúc san lấp mặt bằng thuê cho các công trình xây dựng. Tất cả những việc làm của cha mẹ tôi đã thu hút được một lực lượng lao động đáng kể của thôn làng đang thiếu việc làm.

Ông nội đã thôi làm bí thư Đảng uỷ xã từ lâu. Nhưng dù vậy, ông vẫn không đồng tình với bất cứ việc gì của cha tôi. Ông bảo, cha tôi là “lớp cường hào mới”, chúng nó rồi sẽ lại “bần cùng hoá người nông dân” mà thôi! Do sức khoẻ yếu, ông không thể đến nơi này, đi chỗ khác để đề nghị trừng trị thằng con bất kham. Đành ngồi ở nhà than thở thế thời...

Làng Mơ, một làng quê chưa mưa đã lụt, chưa nắng đã hạn, những mái nhà tranh lúp xúp, mốc mác nằm dưới những bụi tre đỏ quạch trong nắng chiều, cùng những con người quê mùa lam lũ và cũ kỹ. Ngày qua ngày, ai cũng vắt kiệt sức của mình, lo tìm hai bữa sớm tối, dù là khoai hay sắn; nay có đến vài trăm lao động vào làm việc cho công ty của cha tôi, có những công việc đồng lương còn khiêm tốn, nhưng còn hơn “nhàn cư vi bất thiện”.

Ý tưởng thì nhiều, nhưng không phải việc gì cũng thực hiện ngay được. Đang miên man trong cách nghĩ, cách làm, thì đùng một cái cha tôi nhận được thư của cô Vân từ bên Đức gửi về:

Béclinh, ngày  tháng  năm

Anh chị Tiến kính mến,

... Đừng trách cha mẹ, cha mẹ là lớp người của ngày xưa rồi. Càng không được phủ nhận công lao của lớp người ấy. Thế hệ chúng ta chỉ được phép kế thừa, và tìm ra lối nghĩ, cách làm mới để sớm làm giầu cho quê hương, đất nước. Em không phải hạng người hư đốn như một số người nghĩ. Em bỏ học để lao vào công việc thương trường, vì xét thấy không còn cơ hội nào hơn thế để thực hiện những dự định sau này. Em rất nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, anh chị và các cháu. Để đóng góp cho quê hương trong thời đổi mới một cái gì đó thật ý nghĩa, em gửi anh số tiền làm cho làng xã một cái chợ, em biết quê mình rất cần chợ. Cứ nghĩ, cảnh ngày xưa mẹ mình đi chợ xa quá mà thương. Còn việc sửa chữa Từ Đường của họ bao giờ em về sẽ bàn thêm với anh, với các cụ, các ông bà trong dòng họ...

Kính thư Vũ Thị Hồng Vân

Đọc xong thư, cha tôi như reo lên: Sao ý định của em gái giống ý tưởng của anh thế. Ngay ngày hôm sau cha tôi lên xã, lên huyện xin ý kiến để làm thủ tục. Không bao lâu chợ Mơ đã hoàn thành, cùng với con đường liên thôn bằng bê tông với tinh thần “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong phong trào “Chung tay xây dựng nông thôn mới” mà cha tôi đóng góp một phần không nhỏ. Từ ngày có chợ, có đường việc đi lại làm ăn buôn bán của làng, của xã sôi động hẳn lên. Chợ đã dung nạp được mọi thành phần kinh tế, mọi khả năng sức khoẻ, mọi giai tầng xã hội. Và, thực sự nó đã góp phần làm nên diện mạo mới cho làng quê vốn bao đời nay nghèo hèn và khốn khó...

Thấy cha tôi làm ăn được, tổ chức có ý định phục hồi sinh hoạt Đảng. Biết chuyện, ông nội tôi phản đối kịch liệt. Ông cho rằng tất cả những việc làm của cha tôi là cơ hội. Cha tôi chỉ là thằng chủ bóc lột nhân dân lao động vốn đã quen cam phận và nhẫn nhục. Ông ví cha tôi như một kẻ chiêu hồi, nhằm chống phá đường lối của Đảng. Và, cũng từ đấy ông nội tôi ốm nặng, cha mẹ tôi thường xuyên túc trực bên ông, bên một chiếc giường bằng gỗ tạp cũ kỹ, đồng hành cùng ngôi nhà từ ngày xửa, ngày xưa xây bằng gạch ba banh, cột kèo cũng bằng gỗ tạp, nhiều cây đã mọt ruỗng, mà trước đấy đã nhiều lần cha tôi định sửa lại, nhưng ông nội kiên quyết không cho sửa. Ông bảo: Không thể để chúng mày phá đi những cái mà  tổ tiên để lại!  

Ông ốm đã đến lúc nguy kịch. Được tin, họ hàng, làng xóm, đồng đội của ông khắp nơi đến thăm, gặp nhau tay bắt mặt mừng ôn lại những chuyện ngày xưa... Trong số đó có một thiếu tướng, khi chia tay, ông ấy nói với ông tôi:

- Đã lâu chúng mình không gặp được nhau, nhưng thường xuyên tôi vẫn biết tin anh chị và các cháu dưới này. Ngày xưa, chúng mình ăn mộc mạch, uống nước suối đánh giặc. Anh hùng thật đấy, vinh quang thật đấy. Nhưng quá khứ tốt đẹp ấy không phải lúc nào cũng mang ra tung hô khi thấy dân mình còn đói khổ, mà không lo, không nghĩ được cách làm cho dân mình ấm no, hạnh phúc. Nhưng giải quyết những bức xúc ấy thì thế hệ chúng mình già rồi không thể làm được, mà phải chuyển giao cho thế hệ con cháu. Thằng Tiến nhà anh thật giỏi giang, tôi ở trên Hà Nội đã được nghe nhiều về nó, khi về đây mới thấy mọi việc nó làm quả đúng như lời người ta nói, nó đã giải quyết được một phần ba số lao động trong làng xã có công ăn việc làm, không phải lang bạt tứ xứ. Tới đây nhà nước tuyên dương những doanh nhân xuất sắc, tôi được biết trong danh sách ấy có nó. Tôi thực sự chúc mừng anh có người con đã tiếp nối được dũng khí của cha nó.

Cố gắng lắm, ông mới xoay người để cha tôi nâng lên ngồi nghe bạn nói. Ông thiếu tướng nắm bàn tay gầy guộc và xương xẩu của ông tôi hồi lâu. Tự nhiên, những giọt nước từ trong hai hố mắt của ông tôi lăn ra... Ông khóc, nhưng tôi để ý thấy tay ông rờ rẫm nắm lấy tay cha tôi! Lâu lắm rồi, giờ tôi mới thấy ông cầm tay cha tôi như vậy!

Truyện ngắn của: Nguyễn Hồ Cấn

Cùng chuyên mục