Năm 2007, trước tình trạng tăng giá của một số vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, cũng như vướng mắc trong giải phóng mặt bằng đã làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ triển khai của nhiều dự án công nghiệp trên địa bàn. Thêm vào đó, sự xuống cấp của hệ thống cơ sở hạ tầng, năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, sức cạnh tranh của công nghiệp địa phương hạn chế… là những tác động bất lợi đối với đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh.
Trước những khó khăn nêu trên, ngành Công nghiệp đã chủ động đề ra những giải pháp cụ thể, kịp thời để sản xuất công nghiệp đi vào ổn định và tăng trưởng. Do vậy, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt 18.783 tỷ đồng, tăng 17,5% so với năm 2006. Trong đó công nghiệp quốc doanh Trung ương đạt 14.300 tỷ đồng; công nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.690 tỷ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.793 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14,88%.
Năm 2007 cũng là năm đánh dấu mức tăng trưởng của một số sản phẩm công nghiệp trọng điểm như: Sản phẩm điện thương phẩm đạt 1.190 triệu KWh, tăng 16%; sản lượng đóng tàu đạt 326.768 tấn, tăng gấp 2,68 lần; sản phẩm than sạch 41,35 triệu tấn, tăng 15,40%… Một số địa phương thực hiện vượt mức kế hoạch năm và có mức tăng trưởng cao, đó là: Thành phố Hạ Long, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 490 tỷ đồng; thị xã Cẩm Phả đạt trên 716 tỷ đồng; Uông Bí 2.325 tỷ đồng; Móng Cái 655 tỷ đồng; huyện Đông Triều 811 tỷ đồng; Yên Hưng 414 tỷ đồng… Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã và đang hình thành rõ nét các trung tâm công nghiệp, khu cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp như: Trung tâm công nghiệp tàu thuỷ; trung tâm công nghiệp sản xuất xi măng; trung tâm công nghiệp cơ khí siêu trường, siêu trọng; trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao; các khu công nghiệp Cái Lân, Việt Hưng, Đông Mai, Hải Yên; cụm công nghiệp Kim Sen, Hải Hoà, Ninh Dương, Quảng Thành; các làng nghề gốm sứ Đức Chính, Vĩnh Hồng; làm mới và sửa chữa tàu thuyền Thuỷ An…
Có thể nói, một năm sau hội nhập WTO cùng cả nước, kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và ngành công nghiệp nói riêng đã từng bước định hình theo một chiến lược đúng, nội lực được phát huy mạnh mẽ. Các doanh nghiệp dân doanh nở rộ với việc thành lập mới các cơ sở sản xuất, kinh doanh, tạo được bước phát triển vượt bậc so với những năm trước. Trong năm 2007, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 19 dự án, điều chỉnh giấy phép đầu tư cho 7 dự án và cấp giấy chứng nhận đăng ký lại cho 2 dự án, nâng tổng số lên 91 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 825 triệu USD.
Nhìn tổng quan bức tranh công nghiệp của tỉnh trong năm 2007 cho thấy đây là điều kiện tốt và là động lực để các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vững tin bước vào năm 2008 - năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010. Năm 2008, ngành công nghiệp phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp đạt 23.700 tỷ đồng, tăng 18-19% so với cùng kỳ và giá trị tăng thêm là 15-16%. Trên cơ sở tập trung phát triển 8 nhóm sản phẩm chủ lực (khoáng sản, vật liệu xây dựng, điện, gốm sứ, quần áo may mặc, cơ khí, gỗ chế biến, chế biến thuỷ sản); ưu tiên phát triển các ngành mũi nhọn (công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện, điện tử, các sản phẩm công nghệ cao, hiện đại, vật liệu mới); phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế (công nghiệp chế biến lâm sản, hải sản; công nghiệp khai thác khoáng sản). Để đạt được mục tiêu trên tỉnh đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp để phát triển công nghiệp trong thời gian tiếp theo. Quan điểm của tỉnh là xây dựng và phát triển CN-TTCN của tỉnh đến 2015, có tính đến 2020 theo hướng phát triển nhanh, bền vững; trên cơ sở sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cơ sở hạ tầng đã được đầu tư các năm và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các tiềm năng lợi thế về thị trường, lao động gắn với việc xử lý tốt chất thải công nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái. Huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp, đa dạng hoá các hình thức đầu tư, các loại hình huy động đầu tư cho phát triển CN-TTCN. Đầu tư phát triển cơ sở sản xuất CN-TTCN có quy mô hợp lý, phù hợp với quy mô và tính chất của vùng nguyên liệu bằng công nghệ sản xuất tiên tiến, tạo khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng cao, giá thành hợp lý, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khôi phục, nâng cấp công nghệ các ngành nghề thủ công truyền thống mang tính văn hoá của các dân tộc; đầu tư dạy nghề, phát triển sản xuất thủ công nghiệp, tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Củng cố, nâng cao trình độ quản lý, công nghệ lắp ráp, lựa chọn sản phẩm, linh kiện mới chất lượng cao; đẩy mạnh quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển các xưởng gia công, sửa chữa cơ khí, gò, hàn, chế tạo nông cụ đáp ứng nhu cầu trên địa bàn. Bên cạnh đó sẽ đẩy mạnh hoạt động phát triển các khu, cụm công nghiệp; quy hoạch và tổ chức thực hiện các dịch vụ cần thiết cho doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.