Ở Quảng Ninh trong xu thế hội nhập hiện nay thì lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng có vai trò tiên phong chủ lực. Được xếp thứ 7 trong toàn quốc về giá trị tổng sản lượng công nghiệp, song thực chất nền công nghiệp Quảng Ninh mất cân đối và thiếu tính bền vững.
Đồng chí Phạm Quang Thái, Phó Giám đốc Sở Công nghiệp (thứ 2, phải sang) cùng đồng nghiệp bàn về quy hoạch phát triển Trung tâm Nhiệt điện Quảng Ninh.
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2006-2010 đã định hướng đến 2015 xây dựng Quảng Ninh thành một tỉnh công nghiệp. Tháng 12-2005 Bộ Công nghiệp trình Chính phủ Chiến lược và Quy hoạch phát triển Công nghiệp Việt Nam theo ngành và vùng lãnh thổ đến 2010 tầm nhìn 2020, trong đó xây dựng 10 nội dung bao gồm 25 tiêu chí để các địa phương cấp tỉnh đến 2020 phấn đấu trở thành đơn vị công nghiệp, với khá nhiều tiêu chí ngặt nghèo như: Tỷ trọng công nghiệp chế biến/tổng giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) chiếm 87-90%; tốc độ đổi mới công nghiệp đạt 20%; tỷ trọng GTSXCN ứng dụng công nghệ cao/tổng GTSXCN chiếm 50%; tỷ trọng hàng CN công nghệ cao xuất khẩu/kim ngạch XK đạt 80%; tỷ trọng GTSXCN ở nước ngoài/tổng GTSXCN đạt 20%; tỷ trọng các DNCN tham gia vào các tập đoàn đa quốc gia là 15%; tỷ trọng GTSXCN trong cụm khu CN/TGTSXCN chiếm 75%; tỷ trọng số loại hình dịch vụ CN/tổng loại hình dịch vụ CN chiếm 85%; tỷ trọng DNCN đạt chứng chỉ về quản lý (ISO, SA, GMP, HACCP...) đạt 75%; tỷ trọng DNCN đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường là 80%; tỷ trọng rác thải CN được xử lý tái chế chiếm 95%... Hiện tại tỉnh ta mới đạt được một số tiêu chí của Bộ Công nghiệp đề ra, cụ thể là giá trị SXCN và xây dựng chiếm 42%; tỷ trọng giá trị SXCN trên tỷ trọng sản xuất chung là 46%; tiêu dùng điện năng 2.500 Kwh/người/năm và lao động công nghiệp/tổng số lao động chiếm 35%. Bởi vậy mục tiêu phấn đấu để trở thành một tỉnh công nghiệp cần xây dựng rõ lộ trình thực hiện với một quyết tâm cao. Nhất là sự đầu tư thoả đáng, tác động đến phát triển của khối công nghiệp địa phương một cách có bài bản, thu hút nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài mới mong sớm cải thiện bức tranh công nghiệp của tỉnh ta.
Tuy nhiên, tỉnh ta cũng có những thuận lợi sẽ tác động khá tích cực đến phát triển công nghiệp trong một tương lai gần, đó là: Dân số và nguồn lực ở tỉnh ta có trình độ văn hoá, KHKT tương đối cao so với một số tỉnh lân cận. Hàng năm lao động công nghiệp của tỉnh tăng 3,33%. Hiện tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng 15 vạn lao động, đồng thời môi trường công nghiệp có khả năng thu hút và đào tạo một lực lượng đáng kể cán bộ chuyên môn, CNKT có tay nghề cao. Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông, cảng biển, đường sắt ngày càng hoàn thiện. Gần đây từ thực hiện chương trình 367/CT-UB của UBND tỉnh hoạt động hội nhập của Quảng Ninh đã chủ động hơn trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy các thế mạnh gắn với thị trường, góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng lên 51,9% và các ngành dịch vụ là 41% trong GDP toàn tỉnh. Nhịp độ tăng trưởng công nghiệp luôn duy trì ở mức 20%. Một số doanh nghiệp dân doanh đã có bước phát triển khả quan, bước đầu có kinh nghiệm làm ăn và tích luỹ được tiền vốn mở rộng địa bàn sản xuất. Khu vực công nghiệp nông thôn đã có những chuyển biến và sắp tới hàng loạt cơ sở sản xuất điện lực, xi măng, đóng tàu, sắp thép... với quy mô tương đối lớn sẽ góp phần tích cực tăng tỷ trọng công nghiệp. Hệ thống các khu, cụm, điểm công nghiệp bước đầu phát huy hiệu quả. Việc hợp tác kinh tế với Trung Quốc đã phát huy lợi thế đẩy mạnh công nghiệp và xây dựng ở các cửa khẩu quốc tế và quốc gia. Từ thực tế đó ngành Công nghiệp Quảng Ninh đã hướng tới mục tiêu chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng thị trường, tranh thủ nguồn vốn đầu tư, thu hút công nghệ và kiến thức quản lý tiên tiến để đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH, đưa cơ cấu công nghiệp - xây dựng lên 54%.
Kiểm tra dây chuyền sản xuất thạc rau câu công nghệ Đài Loan trị giá 2,5 tỷ đồng tại Công ty CP kỹ nghệ thực phẩm Thái Lan (TP Hạ Long).
Để đạt được mục tiêu trên, các doanh nghiệp cần xúc tiến nhanh việc đăng ký độc quyền bản quyền thương hiệu hàng hoá với các tổ chức trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh công tác tiếp thị, sáng tạo mẫu mã mới, tạo thêm lợi thế cạnh tranh. Đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại. Đào tạo lại đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, sắp xếp lại quá trình sản xuất để có năng suất, chất lượng cao hơn. Một số ngành sản xuất công nghiệp trong khai thác, chế biến sản phẩm thô than đá, cát Vân Hải, đá Tấn Mài cần thông qua chế biến để đạt giá trị cao hơn. Công nghiệp sản xuất VLXD nhất là gạch ngói, đá ốp lát... cần đầu tư công nghệ cao làm gạch Cotto, kính xây dựng. Bên cạnh đó các doanh nghiệp phải tích cực tìm kiếm thị trường xuất khẩu cho dầu thực vật, hải sản đông lạnh, đồ mộc dân dụng; đẩy mạnh chất lượng và thị trường tiêu thụ đối với hàng dệt may, giày da, gốm sứ, than mỹ nghệ, các hàng tiểu thủ công nghiệp hướng mạnh đến thị trường du lịch, xuất khẩu. Đầu tư năng lực cho công nghiệp đóng tàu biển ở khu vực Hạ Long-Yên Hưng-Hải Hà, đưa lĩnh vực này sớm trở thành hướng phát triển kinh tế mũi nhọn của ngành Công nghiệp Quảng Ninh.