Không chỉ Hà Nội có văn miếu Quốc tử giám, Hải Dương có văn miếu Mao Điền mà Quảng Yên xưa đã từng có văn miếu góp phần tri ân công đức tiền nhân, tôn vinh sự học hành, khoa cử.
Theo tư liệu của ông Lê Đồng Sơn, nguyên Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin TX Quảng Yên, văn miếu Quảng Yên được triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng tại núi Long Nhãn, thôn Khê Chanh. Năm Minh Mệnh thứ 10, tức năm 1829, triều đình đã cho Quảng Yên xây dựng lại Văn thánh miếu và Nhà học chính tại Quỳnh Lâu (khu vực cơ quan Sư đoàn 395, Quân khu 3, thuộc địa phận phường Cộng Hòa hiện nay) để đào tạo sĩ tử và quan lại.
Do nhu cầu học hành ngày một tăng, sau này Nhà học chính được nâng lên thành Trường Huấn đạo. Năm Tự Đức thứ hai (tức năm 1849), Trường Huấn đạo được đổi thành Giáo thụ đào tạo tú tài cho các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Nghiêu Phong, châu Hải Ninh, châu Tiên Yên. Trong trường học có xây Văn thánh miếu, thường gọi là Văn miếu, thờ đức Khổng Tử và các tiền nhân để khuyến khích việc học hành.
Sau này, khi thực dân Pháp chiếm thành Quảng Yên đã xây trại lính khố đỏ trong thành (nay là Lữ đoàn hải quân 147) và xây trại khố xanh ở khu Văn thánh miếu và Trường Giáo thụ. Nhân dân chuyển Trường Giáo thụ đến khu Chợ Rộc. Tuy nhiên, viên công sứ Quảng Yên vẫn gửi công văn số 28 ngày 27/3/1895 lên Công sứ Pháp tại Hà Nội xin trả lại văn miếu. Nội dung công văn viết: “Tôi xin hân hạnh thông báo để ngài biết các quan lại bản xứ và dân làng Quỳnh Lâu đã đề nghị cho họ được khởi phục việc tế lễ tại Văn Miếu - nơi trại lính Quảng Yên đang đóng quân”.
Bức điện số 831 ngày 2/4/1895 do Sở Quan hệ với người bản xứ của Chính phủ bảo hộ Pháp gửi Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp lại có đoạn: “Ngôi chùa (thực ra là văn miếu) đã bị quân đội chiếm đóng từ năm 1884; đến năm 1888, do yêu cầu bảo mật, bên quân đội đã cấm người An Nam vào chùa cúng tế. Biện pháp này tỏ ra không hợp lý. Hiện nay, số quân đồn trú trong trại lính Quảng Yên đã giảm xuống nhiều, chỉ còn khoảng 30 người (lúc đầu là 2 đại đội). Vì vậy, kính mong ngài xem xét trả lại ngôi chùa cho bên dân sự để phục hồi việc tế lễ”.
Đến nay, văn miếu và Trường Giáo thụ không còn phế tích nhưng văn miếu vẫn tồn tại trong tâm thức những người già ở Quảng Yên. Người dân Quảng Yên vẫn còn gọi nơi Sư đoàn 395 đóng quân là trại lính văn miếu. Hiện nay, hiện vật về văn miếu chỉ còn 2 tấm bia đá. Một tấm đặt tại Bảo tàng Bạch Đằng. Tấm bia còn lại có đề 6 chữ Hán “Tiền giám sinh quan chức bi” (bia ghi quan chức giám sinh triều trước) nhưng đã bị mất tích, chỉ còn nội dung bia được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tấm bia lưu giữ ở Bảo tàng Bạch Đằng không có tên bia, chỉ ghi nội dung việc chuyển trường từ địa điểm cũ (khu vực Sư đoàn 395 hiện nay) đến địa điểm mới (khu vực chợ Rộc hiện nay). Bia có chân đế hình con rùa, cao 1,6m, có một mặt được khắc chữ. Bia được khắc vào ngày 4 tháng 5 năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 18 năm 1906. Văn bia có đoạn được Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa như sau: Văn miếu Quảng Yên xưa là đất Yên Bang đã được xây dựng từ lâu. Vào những năm thuộc triều vua Minh Mệnh (1820-1840), phụng sắc lệnh dựng tại địa phận núi Long Nhãn, thôn Khê Chanh, các mùa xuân, thu quan tỉnh khâm phụng sắc chỉ đến làm lễ tế theo như điển lệ. Từ khi có việc đó đến nay, vùng đất này đã thành bãi chiến trường hơn chục năm nay. Nay đạo lớn vẫn sáng ngời nhưng văn từ thì đã trải qua mưa gió hủy hoại.
Văn bia đã mất tích chỉ còn bản dập nội dung còn lưu lại ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thể hiện bia có 4 mặt đều được khắc chữ Hán. Mặt thứ nhất cho biết về đền thờ Khổng Tử: Trước đây đặt di tích đền thờ ngay trên đường, địa phận phía đông giáp thôn Khê Chanh, phía Tây giáp xã Yên Hưng kéo đến bến Hoành, lại giáp xã Phong Lưu. Đền được thờ phụng đến năm Vĩnh Thịnh thứ 8. Điều này được khắc đầy đủ trên bia đá. Trải qua lửa đạn chiến tranh, bia đã bị hư hỏng nặng. Các giám sinh Quốc tử giám 30 năm về trước lại dựa theo di chỉ cũ làm lại đền thờ, khắc như cũ. Đến năm Giáp Tý, trấn dinh cho dời bia ra ngoài, lại gặp phải lúc binh lính của trấn thành Quảng Yên đánh nhau với cướp biển làm bia bị vỡ nát, đạo thống cho đến những điều tốt đẹp có nguy cơ không được tồn tại. Hội tư văn của bản huyện đã cố giữ đưa ra ngoài gò đất cao bằng phẳng tại xứ Cựu Tôi, cho dời nguyên 2 bia đá để lập lại vị trí đền tọa lạc lộ thiên với ba tòa tam cấp và cũng y theo điển lệ cũ mà thờ tự. Các sinh đồ cũ và mới cùng với những người đỗ đạt có tham dự vào hội tư văn của bản huyện lại tiếp tục truyền thống trọng đạo cho trùng tu bia thêm một lần nữa.
Như vậy, mặt thứ nhất của bia đá ghi lại nhiều lần trùng tu văn miếu và khắc lại bia đá. 3 mặt bia còn lại ghi rõ tên tuổi, quê quán và năm tháng đỗ đạt của từng người trong vùng. Cuối cùng, ở mặt cuối bia chỉ ghi một ngày "lành trọng thu" (giữa mùa thu) năm Minh Mệnh thứ ba, tức năm 1822, thì hoàn thành bia đá này.
Như vậy, với giá trị độc đáo của mình, văn miếu Quảng Yên rất cần được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, phục dựng, phát huy giá trị tôn vinh sự học trong xã hội hiện đại.
Phạm Học[links()]