Cụ Đặng Thị Tự, hiện ở thôn Trại Giữa, xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà. Cụ đã được Hội VNDG Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian. Dù đã ngoài tuổi 90 nhưng cụ Tự vẫn cần mẫn uốn nắn, chỉ dạy cho thế hệ kế cận từng lời, từng giọng, điệu hát. Hội hát nào mời, cụ vẫn không ngần ngại tham gia…
Tôi đến thăm cụ Tự vào một buổi chiều muộn. Từ trong bếp bước ra, lau vội đôi mắt kèm nhèm vì khói, cụ mời khách lên nhà. Vừa đi cụ vừa bảo, các con đi làm đồng hết, cụ ở nhà đỡ đần cơm nước cho con cháu. Cụ bảo: “Bọn trẻ bây giờ mải làm ăn, chẳng còn thời gian mà học hát như chúng tôi ngày xưa”. Đôi mắt cụ nhìn xa xăm như đang nuối tiếc cái thời đào nương son trẻ ngày xưa…
Ấy là những năm đầu thế kỷ trước, khi cụ mới 12 tuổi đã theo người chú của mình là cụ Đặng Văn Tăng để học hát rồi. Sau đó, cụ theo bà thím của mình tranh thủ học hát. “Toàn học mót thôi, ấy thế mà cũng biết hát hết cả 9 thứ giọng với cỡ khoảng 50 bài đấy...” - Cụ Tự cười khoe như vậy. Cái thời của cụ, hát nhà tơ - hát múa cửa đình đang rất thịnh hành. Cụ Tự cùng với 5 đào nương khác và một ông kép hình thành nên một gánh hát đi biểu diễn khắp từ Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà đến Móng Cái. Cụ bùi ngùi nhớ lại, có mấy lần, các cụ còn sang cả Trung Quốc, “mang chuông đi đánh xứ người”, có khi hát đến khản cả giọng vì một nơi mời hát cũng hát luôn dăm ba đêm. “Tiền thù lao chẳng đáng là bao vậy mà chúng tôi đi hát rất hăng hái. Sau đó, đình bị phá hết chẳng còn có chỗ mà hát. Giờ có đình thì già mất rồi…” - Cụ Tự bùi ngùi.
Dường như, cụ Tự trẻ lại khi kể về những tháng ngày đi hát. Cụ bảo, cụ may mắn và hạnh phúc vì gia đình chồng chẳng những không phản đối mà còn rất tạo điều kiện cho mình. Thời của cụ, cái quan niệm “Xướng ca vô loài” nó nặng nề lắm. Các đào nương vẫn ngậm ngùi bảo nhau rằng: “Chúng mình đừng mong bước ra khỏi sân đình”. Ấy vậy mà có rất nhiều trai làng si mê cụ từ những lời hát. Người đàn ông chung tình nhất trong số trai làng ấy sau này chính là phu quân của cụ Tự. Quả đúng là, cụ Tự “không bước ra khỏi cái sân đình” thì cụ ông “bước vào sân” để rước. Và mấy chục năm ròng, hai cụ sống hạnh phúc, êm ấm bên nhau. Để cho vợ yên tâm đi hát, cụ ông đã làm tất cả mọi việc khi vợ vắng nhà.
Bẵng đi mấy chục năm, đình làng không còn nữa, cụ Tự buồn ngẩn ngơ, tưởng rằng hát nhà tơ đã mai một. Cụ chỉ còn biết ngâm nga một mình những bài hát cũ. Thế rồi mấy năm gần đây, đình làng được xây lại, cụ vui không kể xiết. Người ta cũng tìm đến cụ hỏi chuyện đi hát nhiều hơn. Các hội hát lại được mở ra, tuy tuổi đã cao nhưng cụ không bỏ sót một đám nào. Cụ còn dạy hát cho hơn hai chục cô gái trong làng những lúc nông nhàn. Rồi cụ đọc lại những bài ngày xưa mình vẫn hát cho con cháu chép lại để “nhỡ sau này tôi tịch đi rồi, các chị ấy còn cái mà tập hát” - Cụ Tự bảo thế. Nhưng điều làm cụ băn khoăn nhất lúc này là trí nhớ của mình không còn được tốt nữa. Lại thêm cái nỗi “đám trẻ bây giờ bận bịu quá, có đứa say mê lắm thì cũng học được dăm bài thôi” làm cụ không thể yên tâm. Với dăm bài ấy, họ không thể làm chủ được cái chiếu giữa sân đình trong mỗi hội hát. Cụ Tự buồn bã kể: “Mấy lần, đang giữa hội hát, người ta yêu cầu các chị ấy hát thêm. Các chị ấy hết vốn rồi, lại phải xuống gọi tôi lên hát tiếp”...
Chào cụ, tôi bước chân ra về mà không thể nào quên được ánh mắt xa xăm và câu nói của cụ: “Thực ra hát nhà tơ cũng không khó lắm đâu. Mong rằng có người hiểu nó và yêu nó, đừng để nó mất đi”...
Phạm Học