Dấu mốc lịch sử qua những hồi ức

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan những nỗ lực cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trên chiến trường Đông Dương. Ngày 20-7-1954, Hiệp định quốc tế về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ). Pháp và các nước tham dự hội nghị phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương.

Nhân dân khu mỏ đón bộ đội vào tiếp quản thị xã Hòn Gai. Ảnh: Tư liệu
Nhân dân khu mỏ đón bộ đội vào tiếp quản thị xã Hòn Gai. Ảnh: Tư liệu

Thực hiện hiệp định này, tỉnh Hải Ninh là một trong những nơi địch rút sớm nhất miền Bắc. Ông Phạm Ngọc Chiến (85 tuổi, ở phường Hồng Hải, TP Hạ Long), nguyên cán bộ Tỉnh uỷ Hải Ninh, một trong những chiến sĩ Điện Biên về tiếp quản Khu mỏ, nhớ lại: Ngày 8-8-1954, quân Pháp rút khỏi Tiên Yên, tỉnh Hải Ninh sạch bóng quân xâm lược. Phần lớn địa bàn tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai khi ấy nằm trong vùng tập kết 300 ngày của quân Pháp. Trong khi các lực lượng của ta nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định, thì quân Pháp ra sức càn quét, cướp phá tài sản. Chúng bắt thanh niên ta phải đi lính cho chúng và cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam. Không dừng lại ở đó, chúng còn tháo dỡ máy móc, khuyến khích các đảng phái phản động nổi lên chống phá cách mạng, tăng cường cài cắm gián điệp vào các nhà máy, xí nghiệp, các địa phương với âm mưu chống phá ta về lâu dài.

Trong ký ức của ông Vương Văn Trác (88 tuổi, ở khu Lán Ga, phường Cẩm Đông, TP Cẩm Phả) vẫn vẹn nguyên hình ảnh những ngày tháng tư lịch sử 59 năm về trước. Khi ấy ông là công nhân sở điện Cẩm Phả (cạnh Quảng trường 12-11 ngày nay). Ông kể, bắt đầu từ tháng 3-1955, lính Pháp và chủ mỏ đã rục rịch rút đi. Thực hiện kế hoạch tiếp quản, ta phải đấu tranh với chúng trên nhiều mặt trận. Nào là đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân thấy rõ luận điệu “Chúa đã chuyển vào Nam, bà con nên vô Nam, nếu ở với Cộng sản sẽ rất khổ” của thực dân, chủ mỏ. Nào là đấu tranh chống chủ mỏ phá hoại và di chuyển máy móc đi theo. Ở sở điện Cẩm Phả, ông Trác đã cùng các công nhân khác cất giấu những máy móc, tài sản đi; đấu tranh để máy móc không bị tàn phá. Đặc biệt, ngày 18-12-1954, công nhân Cẩm Phả đã ngăn chặn được bọn chủ mỏ định chuyển 12 hòm máy và 1 cần cẩu Xông-đơ (Sondeur) xuống tàu.

Còn ông Phạm Xuân (SN 1933), nguyên Chủ tịch UBND xã Minh Thành (Quảng Yên) kể: Tỉnh Quảng Yên, khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh là một trong những địa bàn trọng điểm trong kế hoạch cưỡng ép di cư của Mỹ và tay sai. Thực dân Pháp dựng lên Tổng uỷ di cư có trụ sở ở Hòn Gai do tên Voòng A Sáng cầm đầu. Dưới Tổng uỷ di cư có các Ban di cư xã hội, ngoài ra còn có các tổ chức phản động và sự hỗ trợ của hàng nghìn lính Âu Phi, bảo an binh. Với mỗi địa bàn, chúng tập trung cưỡng ép di cư vào một đối tượng nhất định. Ở Quảng Yên, chúng tập trung vào đồng bào Thiên Chúa giáo, những người trước đây là ngụy quân, ngụy quyền. Ở khu mỏ, chúng tập trung cưỡng ép công nhân có trình độ kỹ thuật cao và tầng lớp cai ký, giám thị. Còn ở Hải Ninh, do chính quyền cơ sở, nhất là cấp xã còn yếu, thậm chí nhiều xã chưa thành lập được chính quyền cách mạng, hoạt động cưỡng ép đồng bào di cư của địch diễn ra trắng trợn, điên cuồng.

Để chuẩn bị cho công tác tiếp quản Khu mỏ, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của địa phương, căn cứ vào các đặc điểm địa lý kinh tế, hành chính, dân cư, truyền thống lịch sử, ngày 22-2-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 221/SL thành lập khu Hồng Quảng trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hòn Gai (các huyện Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách và Sơn Động sáp nhập trở lại tỉnh Hải Dương và Bắc Giang). Khu uỷ Hồng Quảng quyết định thành lập 2 đảng uỷ ở 2 thị xã Hòn Gai, Cẩm Phả, các ban cán sự ở Quảng Yên, Cửa Ông, Cát Bà. Khu cũng thành lập một đoàn cán bộ tiếp quản vào tiếp thu cơ sở sản xuất Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (SFCT).

Đỗ Ngọc Hà (Ghi)

Cùng chuyên mục