Để Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp

Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã thông qua chiến lược và quy hoạch phát triển công nghiệp Việt Nam theo ngành và vùng lãnh thổ đến năm 2020 để các địa phương cấp tỉnh phấn đấu trở thành đơn vị công nghiệp, với 10 nội dung và 25 tiêu chí. Trong 25 tiêu chí đó Quảng Ninh mới đạt được một số tiêu chí, cụ thể là: Giá trị SXCN và xây dựng (42%); tỷ trọng giá trị SXCN trên tỷ trọng sản xuất chung (46%); tiêu dùng điện năng 2.500 KWh/người/năm và lao động công nghiệp trên tổng số lao động (35%).

Đóng tàu trọng tải 5,3 vạn tấn ở Nhà máy Đóng tàu Hạ Long

 Đóng tàu trọng tải 5,3 vạn tấn ở Nhà máy Đóng tàu Hạ Long

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII nhiệm kỳ 2006 - 2010 đã định hướng đến 2015 xây dựng Quảng Ninh thành tỉnh công nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập WTO việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở tỉnh ta là nội dung khá bức thiết. Vì vậy phải nhìn nhận, đánh giá thực trạng nền công nghiệp - TTCN để sớm có kế hoạch cụ thể cải thiện bức tranh công nghiệp ở tỉnh ta. Năm 2006, giá trị SXCN của tỉnh ta thực hiện 16.186 tỷ đồng, tăng 20,68% so với cùng kỳ, trong đó: Công nghiệp Trung ương chiếm 12.400 tỷ đồng (73,5%); khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.700 tỷ (chiếm 16,02%); công nghiệp địa phương chỉ chiếm vẻn vẹn 10,48%. Tỷ lệ đó phản ánh khá rõ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt giá trị khá thấp so với rất nhiều tỉnh, thành phố trong khu vực động lực phía Bắc và toàn quốc và điều cần nhấn mạnh là công nghiệp ngoài quốc doanh còn kém phát triển và thiếu sức bật. Khối kinh tế này còn non trẻ, đa số tỷ lệ mới trưởng thành từ các tổ HTX công nghiệp, hộ gia đình... nên chứa đựng nhiều rủi ro do thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý kém. Đến nay toàn tỉnh có 2.654 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) với tổng số vốn hơn 13.000 tỷ đồng, trong đó số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 86%.

Trong thời gian qua một số sở, ban, ngành, địa phương đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính song đến nay nhìn chung hiệu quả còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Một số DNNQD còn bị “hành” trong quá trình mở rộng quy mô sản xuất. Có năm các DNNQD đã gửi 74 văn bản kiến nghị với tỉnh đề nghị giúp tháo gỡ khó khăn liên quan đến các lĩnh vực: Giải phóng mặt bằng (43%); đầu tư và ưu đãi đầu tư (22%); xây dựng cơ sở hạ tầng (15%); về thuế, lệ phí, lao động (20%).... Bên cạnh đó doanh nghiệp còn thờ ơ với xây dựng thương hiệu. Trong hơn 3.000,  doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn hiện chỉ có 120 doanh nghiệp đã làm các thủ tục bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho 214 đối tượng sở hữu trí tuệ và mới có 33 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn Quốc tế như ISO, HACCP, ITU, IEC... Trong 2 năm gần đây tỉnh ta liên tục bị tụt hạng về các chỉ số cạnh tranh thu hút đầu tư đã phản ánh những hạn chế của Quảng Ninh.

Tuy còn hạn chế, nhưng hàng năm số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới ở tỉnh ta vẫn tăng,  từ 25-30%. Đến nay lĩnh vực kinh tế địa phương đã thu hút hơn 15 vạn lao động, thời gian tới có khả năng mỗi năm sẽ tạo thêm hàng vạn việc làm mới. Việc quản lý Nhà nước về công nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả khá rõ nét. Hệ thống các trường dạy nghề đã góp phần đào tạo ra ngày càng nhiều lao động có kỹ thuật, tay  nghề cao đáp ứng được yêu cầu. Hàng loạt khu, cụm, dự án công nghiệp của tỉnh và cấp huyện đã và đang hình thành đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nhiều doanh nghiệp quốc doanh sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động sang Công ty Cổ phần đã có quy mô phát triển hơn như Công ty Cổ phần Xi măng và Xây dựng, Công ty Cổ phần phát triển công nghiệp. Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã đầu tư vào các lĩnh vực trước kia thuộc lĩnh vực Nhà nước “độc quyền” quản lý đã góp phần xã hội hoá nhanh chóng hoạt động y tế, giáo dục... Hiệu quả hoạt động của Bộ phận thường trực tổ công tác liên thông UBND tỉnh đang gỡ bỏ dần rào cản đã tạo nên sức hấp dẫn, thu hút đầu tư. Hệ thống cơ sở hạ tầng như cảng biển, giao thông thuỷ bộ, đường sắt ngày càng hoàn thiện. Gần đây việc thực hiện chương trình 367/CT-UB của UBND tỉnh nên những hoạt động hội nhập có phần chủ động theo hướng phát huy thế mạnh gắn với nền kinh tế thị trường đã làm tăng tỷ trọng trong khu vực công nghiệp, xây dựng lên 51,9% và các ngành du lịch (41%) trong GDP toàn tỉnh. Hàng loạt dự án như sản xuất xi măng, điện, đóng tàu, sắt thép có quy mô lớn, giá trị nộp ngân sách cao đi vào hoạt động trong một tương lai gần sẽ góp phần tích cực làm tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp.

Hiện tại để Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp vẫn còn nhiều thách thách thức. Vì vậy cần có lộ trình phát triển công nghiệp gắn với những nội dung, tiêu chí quy định của Chính phủ về một tỉnh công nghiệp để có chiến lược dài hơn với hàng loạt chương trình cụ thể mới có thể đưa công nghiệp lên tầm cao mới, đáp ứng với quá trình hội nhập.

Cùng chuyên mục