Để sản phẩm TTCN trụ vững trong môi trường cạnh tranh

Những năm gần đây, ngành tiểu thủ công nghiệp (TTCN) Quảng Ninh đã dần khẳng định được vị thế, khả năng cạnh tranh trên thị trường với giá trị sản xuất bình quân 1 năm là 290 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 29,37% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương của tỉnh. Tuy nhiên, để ngành  TTCN, làng nghề duy trì, phát triển và sản phẩm TTCN đủ sức cạnh tranh trên thị trường vẫn còn nhiều vấn đề đang được đặt ra.

Để sản phẩm TTCN trụ vững trong môi trường cạnh tranh ảnh 1
Dây chuyền sản xuất lưới của doanh nghiệp tư nhân Thanh Hoa (Móng Cái).

Ngành TTCN Quảng Ninh trong những năm qua đã có bước phát triển  vượt trội so với giai đoạn trước. Nhiều cơ sở TTCN, ngành nghề phát triển rõ nét, như: Sản xuất gốm sứ sản lượng năm 2001 đạt 450 nghìn sản phẩm, đến năm 2007 đạt trên 10 triệu sản phẩm và 6 tháng đầu năm 2008 đạt gần 6,5 triệu sản phẩm, tăng hơn 22 lần; sửa chữa và đóng mới tàu thuyền tăng 3 lần; một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác như thuỷ tinh dân dụng, quần áo, giầy dép, sản xuất đồ mộc... tăng 1,7 đến 2 lần. Tuy vậy, hầu hết các sản phẩm TTCN còn nghèo nàn về hình thức, kiểu dáng, mẫu mã và chủ yếu mới hướng đến thị trường nội địa, đối tượng khách hàng có thu nhập trung bình. Nguyên nhân chính là do công tác quy hoạch, định hướng sản phẩm TTCN chưa được chú ý xây dựng một cách khoa học cho cả trung hạn và dài hạn nên chưa có sản phẩm nào mang tính chủ lực; công tác tổ chức sản xuất, thiết kế mẫu mã sản phẩm phân tán, mang tính tự phát vì cá nhân nỗ lực thực hiện là chủ yếu. Các doanh nghiệp làm TTCN chưa chủ động tạo ra sản phẩm mới để giới thiệu cho thị trường mà chỉ dựa vào yêu cầu của từng đơn hàng cụ thể, trong khi đó, chiến lược thị trường và khả năng tiếp thị sản phẩm còn nhiều hạn chế.

Một trong những khó khăn chung của các cơ sở sản xuất TTCN tỉnh ta chính là khả năng xúc tiến thương mại, tham gia những cuộc thương thảo, ký kết hợp đồng kinh tế với các đối tác nước ngoài. Chính vì vậy, số lượng doanh nghiệp, HTX và các hợp đồng kinh tế xuất khẩu trực tiếp của doanh nghiệp trong tỉnh rất ít. Bà Lê Thuý Hồng, Giám đốc Công ty TNHH Hồng Cẩm trăn trở: “Yêu cầu của thị trường cần những sản phẩm thủ công phải thực sự tinh xảo về đường nét, kiểu dáng, mẫu mã; màu sắc và chất liệu phải an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường, hơn nữa sản phẩm phải thể hiện được khả năng sáng tạo, giá trị văn hoá… nhưng thực tế sản phẩm TTCN của chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu này. Ngược lại, người lao động lại coi nghề TTCN như một nghề phụ, không tâm huyết, sáng tạo trong công việc, không chủ động nâng cao tay nghề, tỷ lệ sản phẩm lỗi, hỏng còn cao gây lãng phí nguyên liệu, công lao động dẫn đến thu nhập thấp...”. Đại diện Doanh nghiệp tư nhân Thanh Vượng, một trong những doanh nghiệp bao tiêu một số sản phẩm thủ công trên địa bàn huyện Yên Hưng cho biết: “Muốn sản phẩm TTCN phát triển và đạt giá trị xuất khẩu cao cần có giải pháp đẩy mạnh quảng bá trên cơ sở có một hội đồng xét tuyển, bình chọn hàng năm các sản phẩm TTCN có thương hiệu. Bên cạnh đó, phải có Quỹ bảo trợ tín dụng dồi dào cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để hỗ trợ cho doanh nghiệp, nếu để tình trạng doanh nghiệp tự “bơi” thì sẽ khó có sản phẩm nào phát triển được...”.

Như vậy, để tiếp tục làm đòn bẩy cho TTCN phát triển, trước mắt các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phải vượt qua rào cản của chính mình. Xoá bỏ tư tưởng tự bằng lòng với những kết quả đã đạt được, coi trọng hơn nữa việc đầu tư mở rộng sản xuất. Các DN cần tính toán, phải làm gì để giải quyết những vấn đề chủ yếu như: Đầu tư phát triển sản xuất; xây dựng nhãn hiệu hàng hoá gắn với quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ; tăng cường năng lực và hiện đại hoá công tác quản lý; xây dựng chiến lược cho sản phẩm, cho doanh nghiệp và cho cơ sở sản xuất. Ông Đoàn Văn Khanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến công khẳng định: Yếu tố đầu tiên phải là doanh nghiệp. Các DN cần có sự hợp tác, phân công sản xuất để tạo khối lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu khách hàng. Các hiệp hội nghề nghiệp cần xây dựng tiêu chí nội bộ cho từng sản phẩm để đảm bảo sự thống nhất cho sản phẩm giữa các cơ sở sản xuất hoặc các sản phẩm có cùng nhãn hiệu hàng hoá, hoặc phân công để sản xuất. Hình thành các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm được lựa chọn trên cơ sở các doanh nghiệp hiện có cùng với sự hỗ trợ của nhà nước để xây dựng thành một doanh nghiệp đủ mạnh vừa tổ chức sản xuất, vừa cung cấp dịch vụ và gom hàng từ các cơ sở khác để đưa ra thị trường. Đối với tỉnh cũng cần phải xây dựng và quy hoạch vùng nguyên liệu ổn định với những chính sách đầu tư, trợ giá để khuyến khích người dân và các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, đặc biệt là gắn với nghề chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Cần điều tra, khảo sát và đánh giá để chọn lựa ngành nghề  có khả năng phát triển phù hợp với xu thế phát triển của từng địa phương. Từ đó có quy hoạch phân vùng hợp lý nhằm tạo điều kiện phát huy lợi thế cho từng loại ngành nghề, đồng thời đẩy nhanh tiến độ đầu tư các cụm, điểm công nghiệp nông thôn để đáp ứng nhu cầu mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp và cơ sở sản xuất...

Cùng chuyên mục