Với mỗi vùng đất, cái làm nên sự hấp dẫn nhất cho du khách chính là nét độc đáo của văn hoá bản địa. Quảng Ninh với 22 dân tộc, dân tộc nào cũng có bề dày văn hoá đặc sắc; vấn đề là ở chỗ làm thế nào để khai thác nguồn tài nguyên này một cách tốt nhất mà thôi...
Tài nguyên đầu tiên phải kể đến là những giá trị văn hoá phi vật thể. Theo ông Nguyễn Quang Vinh, Chủ tịch Hội VNDG Quảng Ninh, tỉnh nhà có nhiều loại hình dân ca đặc sắc có thể xây dựng thành sản phẩm du lịch, như: Hát lượn, hát then của người Tày; hát gọi bạn, hát đối giao duyên, hát ru, hát cấp sắc của người Dao; hát Soóng cọ của người Sán Chỉ; hát Soọng cô của người Sán Dìu; hát San cưa của người Hoa; hát nhà tơ, hát xẩm, hát đúm, hát chèo của người Kinh v.v..
Ông Vinh cũng cho rằng, nên kết hợp lồng ghép các bài dân ca này với những loại hình dân ca khác trong cả nước như: Hát quan họ, hò Huế, đờn ca tài tử Nam bộ v.v.. để tạo ra sự sinh động. Đồng thời, cần phải gắn dân ca với những điệu múa đặc sắc của các dân tộc trong tỉnh, như: Nhảy rồng, nhảy gà của người Dao; nhảy Tắc sềnh của người Sán Chỉ; nhảy pát tang dọn đường, nhảy mời sỉnh lảu Then của người Tày; nhảy than, nhảy kiếm của người Sán Dìu; múa kéo chài, múa chèo thuyền trên biển của người Kinh.
Tuy nhiên, không phải cứ máy móc bê nguyên tất cả lên sân khấu là tạo ra được sản phẩm du lịch. Phải xuất phát từ đặc trưng của mỗi loại hình diễn xướng dân gian để “sân khấu hoá” theo hướng tinh giản, chọn lọc những trích đoạn đặc sắc hấp dẫn nhất để thể hiện. Nhưng ngược lại, sân khấu hoá cũng không được làm méo mó biến dạng giá trị văn hoá nguyên gốc.
Vấn đề địa điểm tổ chức cũng là một bài toán khó, bởi vì đa phần các lời hát điệu múa gắn với không gian diễn xướng rất riêng, đó là không gian cánh đồng, dòng sông, sân đình v.v.. Không gian trình diễn lại cần đảm bảo thuận lợi cho cả đơn vị tổ chức biểu diễn lẫn phía các nhà tổ chức lữ hành trong việc tổ chức cho khách trải nghiệm và thưởng thức các sản phẩm du lịch. Địa điểm biểu diễn cần tận dụng lợi thế cửa khẩu, với hoạt động giao thương buôn bán, không gian du lịch bãi biển, trên các con tàu du lịch, các hang động, thậm chí trên các nhà hàng nổi trên Vịnh Hạ Long. Các điểm đến du lịch văn hoá tâm linh ở Uông Bí, Đông Triều, Quảng Yên cũng cần được quan tâm v.v.. Bên cạnh đó, những vấn đề như không gian văn hoá, vấn đề giao thông, môi trường cảnh quan, thời gian lưu trú, các sản phẩm du lịch tương hỗ cũng cần được lưu ý.
Được biết, cho đến thời điểm này, một số tiết mục nghệ thuật dân tộc đã được Đoàn Chèo và Đoàn Cải lương biểu diễn phục vụ khách du lịch theo tinh thần của đề án “Xây dựng các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc trở thành sản phẩm du lịch” do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện. Trên thực tế, hai đoàn nghệ thuật của tỉnh đã thực hiện việc làm này trước cả khi có đề án, tuy chưa thành hệ thống. Đoàn Nghệ thật Chèo Quảng Ninh thường xuyên biểu diễn bán vé cho du khách tại Cung Văn hoá Lao động Việt - Nhật; còn Đoàn Nghệ thuật Cải lương thì phối hợp biểu diễn với Công viên Hoàng Gia. Để thực hiện tốt hơn nữa đề án này, ông Nguyễn Quang Vinh, Chủ tịch Hội VNDG tỉnh, cho rằng, cần xây dựng một nhà hát nghệ thuật truyền thống tại Quảng Ninh, thành lập thêm các CLB hát múa dân ca, dân vũ; gắn kết với những hoạt động của các doanh nghiệp du lịch, đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị biểu diễn, ổn định đời sống diễn viên.
Với loại hình văn hoá vật thể, ông Nguyễn Quang Vinh cho hay, Hội VNDG sẽ đặt hàng các nghệ nhân dân gian làm tranh thêu, thổ cẩm, sắc phục dân tộc, các sản phẩm mỹ nghệ bằng chất liệu than đá lấy phong cảnh thiên nhiên và con người Quảng Ninh làm hình tượng nghệ thuật. Ông Vinh cũng đề xuất, nên lựa chọn, xây dựng thành sản phẩm lưu niệm đặt trong không gian biểu diễn giới thiệu văn hoá, văn nghệ dân gian nói chung. Theo đó, sắp tới Hội VNDG tỉnh sẽ thành lập một trung tâm giới thiệu và quảng bá VNDG, làm nơi để 17 CLB VNDG biểu diễn phục vụ du khách, đồng thời bày bán các sản phẩm thủ công truyền thống lưu niệm.
Không chỉ có VNDG mới thành sản phẩm du lịch, mà ngay cả văn học viết cũng có thể được sử dụng vào việc này. Lại nhớ, có lần người viết bài này tham quan Khu du lịch Ghềnh Ráng (thuộc TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) thấy người ta quy hoạch cả một quả đồi đặt tên là đồi Thi Nhân để quảng bá hình ảnh địa phương qua thơ Hàn Mặc Tử. Thêm nữa, những bài thơ này còn được khắc lên đá núi hay viết vào gỗ bằng bút lửa làm sản phẩm lưu niệm để bán cho du khách. Việc làm này có nhiều cái lợi ở chỗ vừa quảng bá được hình ảnh du lịch địa phương vừa tạo ra nguồn thu đáng kể. Từ thơ rồi đến nhạc đến hoạ. Người ta đọc thơ mà phổ nhạc về Quy Nhơn, vẽ tranh về Quy Nhơn. Chỉ cần nghe nhạc ấy, xem tranh ấy người ta đã háo hức muốn đến, người đến rồi thì mong một lần trở lại. Thiết nghĩ, với Quảng Ninh ở những không gian như: Khu di tích và danh thắng Yên Tử ở Uông Bí, Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều hay cụm không gian đền thờ Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, bãi cọc Bạch Đằng ở thị xã Quảng Yên cũng nên có những cách làm tương tự với thơ Thiền Trúc lâm Yên Tử, thơ văn thời Trần và cả thơ của hậu thế viết về những địa danh ấy.
“Bên cạnh văn học còn có hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, âm nhạc đều có thể sử dụng vào quảng bá du lịch” - Ông Phạm Ngọc Thành, Chủ tịch Hội VHNT tỉnh, đánh giá như vậy. Ông Thành cho biết, ngoài các triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh hàng năm, Hội còn thực hiện mô hình triển lãm tổng hợp lấy tên là con đường di sản. Theo đó, tất cả những ảnh, tượng, mô hình ánh sáng, âm thanh, biểu tượng, hoa văn v.v.. đều phối hợp hài hoà thể hiện chủ đề tôn vinh những giá trị di sản truyền thống. Từ đây, hình ảnh về di sản được quảng bá một cách trực quan và độc đáo. Con đường di sản đã trở thành một sản phẩm độc đáo góp phần quảng bá du lịch. Trong các sự kiện lớn của tỉnh, công trình này đều thu hút được rất đông người xem.
Ông Thành cũng cho biết sắp tới Hội VHNT cũng sẽ đề xuất xây dựng những không gian VHNT gắn với môi trường du lịch như: Treo tranh ảnh nghệ thuật, phù điêu, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, một số biểu tượng văn hoá trên một số du thuyền ở Vịnh Hạ Long; xây dựng con đường di sản văn hoá trưng bày thơ cổ, phù điêu, tranh ảnh, dựng tượng đài, tạo lập những không gian diễn xướng dân gian ở TP Hạ Long v.v.. “VHNT không thể là những gì xơ cứng mà cần phục vụ trở lại đời sống sinh động đã sinh ra nó. Biến nó thành sản phẩm du lịch hay sản phẩm mời gọi du khách tức là đưa VHNT tham gia đóng góp một cách sâu sắc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh” - Ông Phạm Ngọc Thành nhận định.
Huỳnh Đăng