Đền Nguyệt Lĩnh và những thăng trầm

Đền Nguyệt Lĩnh (thôn Đình, xã Cộng Hoà, Yên Hưng) hiện nay chỉ là một gian nhà cấp 4 khá sơ sài với ba gian tiền tế và một gian hậu cung. Đền đã di chuyển ở nhiều địa điểm khác nhau, vị trí hiện nay của đền nằm trên nền công trình đình làng Quỳnh Lâu xưa kia.

Đền Nguyệt Lĩnh hiện nay được xây dựng trên nền công trình đình Quỳnh Lâu xưa kia với kiến trúc khá đơn giản.
Đền Nguyệt Lĩnh hiện nay được xây dựng trên nền công trình đình Quỳnh Lâu xưa kia với kiến trúc khá đơn giản.

Theo lời các cụ già của làng thì đầu tiên, công trình chỉ là một căn miếu nhỏ ở núi Cô Tiên (phía sau Lữ đoàn 147 hiện nay). Sau này, khi thực dân Pháp chiếm đóng, tiến hành xây thành Quảng Yên ở khu vực này, căn miếu được chuyển về núi Nguyệt Lĩnh và trở thành đền Nguyệt Lĩnh. Theo tư liệu của Viện Hán Nôm, đền có kiến trúc hình chữ Đinh, rộng 5 gian, có hậu cung thờ mẫu Liễu Hạnh (thời vua Lê Cảnh Hưng đã cho tạc tượng mẫu Liễu Hạnh thờ ở đây), có kiệu sắt, kiệu võng... Đền xây gạch, lợp ngói, cột kèo bằng gỗ, cả cung, tiền sảnh rộng khoảng 150m2. Thời ấy, đền Nguyệt Lĩnh nằm dưới hai gốc đa rất to, trùm bóng sum sê. Cây đa to đến nỗi vào thời kỳ máy bay Mỹ bắn phá, chợ Rộc di chuyển về đây, hàng trăm người ngồi dưới gốc đa mà không bị máy bay phát hiện. Đáng tiếc là năm 1976, khi làm thuỷ lợi, đồi Nguyệt Lĩnh đã bị san phẳng để lấy đất đắp mương, nay nơi đây chỉ còn các công trình thuỷ lợi, dân sinh và ruộng đất canh tác của người dân. Các sắc phong của đền thất lạc khắp nơi, tượng mẫu Liễu Hạnh cũng bị đem đốt, nhưng do được đúc bằng đồng, đốt không cháy nên bị vần vào chùa Bằng. Sau này, ông Đặng Xuân Tề, Giám đốc Bảo tàng Bạch Đằng (Yên Hưng) đã yêu cầu dân quân khuân lên xe mang về và tượng mẫu Liễu Hạnh vẫn để ở Bảo tàng Bạch Đằng từ ngày đó đến nay.

Lại nói về công trình đình làng Quỳnh Lâu, cũng theo lời các cụ kể lại thì đình có không gian rất rộng, hàng trăm người có thể ngồi trong khuôn viên, các kiến trúc bằng gỗ khá tinh xảo. Nơi đây, đội võ trang tuyên truyền của tướng Nguyễn Bình từng tụ họp bà con tuyên truyền trước khi tổ chức cướp chính quyền ở huyện lỵ Quảng Yên trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, đình vẫn còn một phần và được trưng dụng làm lớp học, nhưng do mưa gió, do tư tưởng ấu trĩ, nhìn nhận hạn chế của một thời về văn hoá cũ nên đình đã bị phá huỷ sau đó trong phong trào cả làng làm hợp tác xã. Những cột kèo bằng gỗ bị lấy đi dựng trường học, làm củi đun. Ngay cả tấm biển ghi lại công lao đánh giặc giữ nước của làng từng được vua Tự Đức phong cho 4 chữ “Quỳnh Lâu nghĩa dân” cũng bị chẻ củi mất. Không gian của đình trở thành sân kho hợp tác xã. Chứng tích của ngôi đình hiện chỉ còn mấy tảng kê chân cột bằng đá xanh vẫn rải rác quanh khuôn viên. Hết thời bao cấp, ở đây lập nên một cái miếu con, thờ tam vị tôn đẳng phúc thần làm thành hoàng làng là Chúa sơn Đại vương, Đông thiên Đại vương và Linh Thông Đại vương. Cả ba vị thành hoàng làng đều có sắc phong với tổng cộng 9 sắc phong mà xa nhất là sắc thời vua Lê Cảnh Hưng năm 1743.

Với nguyện vọng khôi phục lại đền Nguyệt Lĩnh, các cụ già của làng đã đi nhiều nơi để kiến nghị. Ông Nguyễn Hữu Lãng, Trưởng Ban khánh tiết quản lý đền bộc bạch: “Sau khi nghỉ hưu năm 1981, tôi bắt đầu chuyên tâm làm việc này. Lúc ấy có cán bộ văn hoá còn bảo, Quỳnh Lâu chả có thánh tích gì cả, tôi phải đưa ra một sắc phong đền Nguyệt Lĩnh được ban thời vua Tự Đức mới không còn ý kiến nữa...”. Tuy nhiên, cũng mãi đến năm 1992, khi Bộ Văn hoá Thông tin có ý kiến về địa phương thì các cụ trong Ban quản lý đền mới bắt đầu tìm tòi, phục dựng lại. Đến nay, công trình vẫn còn khá đơn giản, ngoài tứ trụ đền, đền chính có ngôi nhà 3 gian lợp ngói đỏ, một gian hậu cung với 4 ban thờ. Căn cứ vào thần tích, thần phả của làng ghi chép về các sắc phong, các cụ trong Ban Quản lý đền đã tìm tòi, sưu tầm bền bỉ một thời gian dài và đã tìm được các sắc phong của làng Quỳnh Lâu được lưu giữ tại Viện Hán Nôm. Hiện nay, các cụ đã in sao lại được 14 sắc phong (9 sắc phong của đình Quỳnh Lâu, 4 sắc của đền Nguyệt Lĩnh và 1 sắc phong của cụ tổ họ Lê là Lê Đình Túc, người có công giữ đất cho làng, hiện cũng được đưa về đây phối thờ).

Nguyện vọng phục hồi đình Quỳnh Lâu của người dân nơi đây rất tha thiết. Và mong mỏi của Ban Quản lý đền Nguyệt Lĩnh là đền được đưa vào lập hồ sơ xếp hạng di tích để có thể huy động xã hội hoá dựng lại công trình khang trang hơn. Mong rằng, các cơ quan chức năng lưu tâm nhiều hơn đến vấn đề này, giúp cho nguyện vọng của người dân nơi đây sớm trở thành hiện thực.

Ngọc Mai

Cùng chuyên mục