Di sản Hán - Nôm của Quảng Ninh: Cần bảo tồn và phát huy đúng giá trị

Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước qua hàng trăm năm của cha ông đã để lại cho vùng đất Quảng Ninh hôm nay một kho trí tuệ vô giá. Đó là những bia ký, sắc phong, câu đối, thần tích, địa bạ, khoán lệ, hương ước, thơ phú.... bằng chữ Hán - Nôm lưu tại các đình, chùa, nhà thờ họ rải rác tại các địa phương trong tỉnh. Kho tư liệu này phản ảnh khá đầy đủ về các mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội xưa. Theo các nhà nghiên cứu về Hán - Nôm, kho di sản trí tuệ này có giá trị rất lớn nhưng chúng ta khai thác chưa tương xứng với giá trị của nó...

“Di cảo” quý của cha ông

Theo thống kê, Ban Quản lý Di tích - Thắng cảnh, thuộc Sở VH-TT&DL (hiện nay Ban đã giải thể) đã in dập được khoảng 200 mặt văn khắc trên các bia đá, cây hương, chuông, khánh tại các di tích đình, chùa, đền, miếu trên địa bàn tỉnh. Trong đó đã dịch 139 mặt bia, 10 mặt chuông. Đáng chú ý có những bia niên đại thời Lý - Trần (thế kỷ XI-XIV) như bia chùa Quỳnh Lâm, chùa Non Đông (Đông Triều)... Bia chùa Non Đông, thị trấn Mạo Khê dựng năm Khai Hựu thứ 2 (1331). Căn cứ vào bia mà ta biết rằng chùa tên chính là chùa Tường Quang, được xây dựng vào những năm 1285-1293. Bia chùa Hồ Thiên (Đông Triều) dựng năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), có bài minh văn rất hay do các quan thượng thư trong triều phụng mệnh chúa Trịnh Giang soạn, hàm ngợi ca công đức của chúa Trịnh Cương và cảnh đẹp của chùa...

Cùng với văn khắc, thể loại hoành phi câu đối thống kê được có khoảng trên 1.000 câu đối và gần 500 hoành phi đại tự. Tại đền Trung Cốc, xã Nam Hoà (Quảng Yên) thờ Trần Hưng Đạo có 5 bức hoành phi và 1 câu đối của vua Gia Long (1804) còn ở đình Trà Cổ là 1 hoành phi niên đại Tự Đức thứ 2 (1849), 3 hoành phi Khải Định (1919), 1 câu đối thời Thiệu Trị (1842)...

Một thể loại khác là thần tích ghi lại lịch sử các thần, thành hoàng được nhân dân địa phương thờ tự và do các chức sắc trong làng xã sao chép. Trước khi giải thể, Ban Quản lý di tích, thắng cảnh tỉnh đã sưu tầm được 12 bản thần tích tại 2 địa phương Đông Triều, Quảng Yên. Đặc biệt trong số đó có thần tích xã Dưỡng Động, tổng Dưỡng Động (Quảng Yên) chép khá nhiều về lịch sử các Vua Hùng, truyền thuyết Lạc Long - Âu Cơ sinh bọc trăm trứng.

Bia chùa Hồ Thiên dựng năm 1736 có bài minh văn do các quan thượng thư phụng chỉ chúa Trịnh Giang soạn. Ảnh: T.M
Bia chùa Hồ Thiên dựng năm 1736 có bài minh văn do các quan thượng thư phụng chỉ chúa Trịnh Giang soạn. Ảnh: T.M

Khác với thần tích, sắc phong là thể loại văn bản chỉ của các vua ban tước cho các thần được tôn thờ trong các đình, đền, miếu. Đây là báu vật của làng xã. Trong số 365 sắc phong đã được sưu tầm, biên dịch thì nhiều nhất là của Đông Triều (241 sắc), tiếp đến là Quảng Yên (91), Cẩm Phả (14), Hạ Long (10). Có 32 sắc phong có niên đại thời Lê (thế kỷ XV-XVIII), còn lại 332 sắc là thời Nguyễn (thế kỷ XIX - nửa đầu XX).

Trong khi đó thì địa bạ là loại hình chuyên ghi về số lượng đất công và đất tư của từng địa phương do các tiên chỉ, lý trưởng của làng xã xưa soạn. Tới nay, cơ quan chức năng mới chỉ phát hiện 4 cuốn địa bạ ghi chép về Quảng Yên nhưng đều là lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội). Cuốn địa bạ có niên đại sớm nhất là năm Gia Long thứ 4 (1805), muộn nhất là năm Thành Thái thứ 14 (1905).

Loại hình thứ 5 của di sản Hán - Nôm là các khoán lệ, hương ước là những quy định của làng xã bắt buộc các thành viên phải tuân theo. Trong đó có quy định về tế lễ thần linh, bầu bán chức sắc, tang ma cưới xin, đối nhân xử thế. Hiện chỉ còn 3 cuốn khoán lệ của tổng Hà Nam, Hà Bắc (Quảng Yên) lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.

Thể loại cuối cùng đó là thơ phú Hán - Nôm. Cho tới nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm, phiên dịch, hiệu duyệt được 84 bài thơ phú của các tác giả nói về Quảng Ninh. Tiêu biểu như bài phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, Vân Đồn của Nguyễn Trãi, thơ khắc trên núi Bài Thơ của vua Lê Thánh Tông, chúa Trịnh Cương v.v..

Việc bảo tồn, phát huy giá trị vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Chúng ta đều biết di sản Hán Nôm là nguồn tư liệu lịch sử quan trọng để tìm hiểu cội nguồn lịch sử dân tộc, tìm hiểu lịch sử vùng đất, con người Quảng Ninh. Thực tế, công tác bảo tồn các di sản trí tuệ này gặp không ít khó khăn. Với các tư liệu khắc trên đá, do tác động của thời gian, mưa nắng ngày một phai mòn. Với các tư liệu viết trên giấy thì bị khí hậu, mối mọt đe doạ. Rồi là chưa kể ý thức giữ gìn của con người không phải ở đâu, chỗ nào cũng cẩn trọng được.

Mặt khác, một khó khăn là không phải ai cũng có thể đọc, dịch, hiểu hết được ngữ nghĩa của chữ Hán, chữ Nôm. Người biết, giỏi chữ Hán - Nôm trên địa bàn tỉnh đếm trên đầu ngón tay. Ngay như cơ quan quản lý nhà nước về di tích của tỉnh là ngành Văn hoá, từ Sở VH-TT&DL đến các phòng văn hoá cấp huyện cũng không có ai đọc, dịch được chữ Hán - Nôm. Tất cả đều phải dựa vào các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Hán - Nôm.

Đầu năm 2005, cố nhà giáo Nguyễn Thanh Dân, nguyên giáo viên Trường THPT Hòn Gai đã cho ra đời cuốn Trong kho tàng thơ văn Hán Nôm dày hơn 300 trang, tập hợp một số tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu sáng tác về Quảng Ninh. Gần đây, ông Lê Đồng Sơn, Trưởng phòng Văn hoá Quảng Yên cũng đã biên soạn cho ra đời cuốn sách… “Văn hoá Yên Hưng - Di tích, văn bia, câu đối, đại tự” giới thiệu về các di sản Hán Nôm của Quảng Yên. Tính đến nay, đây là 2 tác phẩm đầu tiên đề cập đến kho tư liệu Hán Nôm của Quảng Ninh.

Nhận thấy việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản Hán - Nôm có vai trò lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, khi chưa giải thể, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng tỉnh đã phối hợp với Viện nghiên cứu Hán Nôm triển khai đề án “Điều tra sưu tầm di sản Hán Nôm Quảng Ninh”. Dự án đã được thực hiện trong hai năm 2003-2004. Các chuyên gia Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã dày công điền dã tại các địa phương trong tỉnh sưu tầm, biên dịch, hiệu đính để có thể cho ra đời cuốn “Di sản Hán Nôm Quảng Ninh”, giới thiệu các tư liệu văn khắc, thần tích, sắc phong, khoán lệ, hương ước, thơ phú. Theo kế hoạch, cuốn sách gồm 2 tập, mỗi tập 1.100 trang. Sở VH-TT (nay là Sở VH-TT&DL) đã có Tờ trình số 592/TT-VHTT gửi UBND tỉnh báo cáo đề xuất về việc xuất bản cuốn sách. Tiếc rằng, dù đã được Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ thẩm định, UBND tỉnh đồng ý nhưng cuốn sách cuối cùng vẫn không được ra đời. (Được biết, nguyên nhân là do giá thành cuốn sách cao quá, lên tới 804 triệu đồng, thời điểm năm 2005…). Ngay sau đó, Ban Quản lý Di tích - Thắng cảnh giải thể, những người trực tiếp làm cuốn sách (kể cả chuyên gia Viện Hán Nôm - ông Hoàng Giáp) cũng nghỉ hưu. Từ đó, không ai nhắc đến cuốn sách nữa… Đây thực sự là điều đáng tiếc!

T.M

Cùng chuyên mục