Thị xã Đông Triều đang sở hữu một hệ thống di sản Hán Nôm đồ sộ gồm địa chí, lịch sử, thơ phú, văn bia, thần tích thần sắc, địa bạ, hoành phi, câu đối,... Đây là những tư liệu thành văn quý giá phản ánh nhiều mặt đời sống của một vùng đất địa linh nhân kiệt.
Về sắc phong, theo ông Hoàng Giáp, nguyên Trưởng Phòng Sưu tầm (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), Đông Triều có khoảng 500 sắc phong, trong đó hơn 300 sắc phong được lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội và Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đáng chú ý, 241 sắc phong đã được biên dịch, chiếm số lượng sắc phong nhiều nhất của tỉnh. Phần lớn sắc phong ở Đông Triều được các vua nhà Nguyễn từ vua Gia Long đến vua Bảo Đại (1802-1944) phong tặng và là những bản chép tay chứ không có nguyên gốc.
Hệ thống thần tích thần sắc cho biết, phần nhiều các làng xã ở Đông Triều xưa đều thờ các vị thần: Tản Viên sơn thánh; Cao Sơn, Quý Minh (những người em của Tản Viên sơn thánh) và Linh Lang đại vương (con trai của Lạc Long Quân xuống quai đê lấn biển). Đặc biệt, việc thờ thành hoàng ở nhiều làng xã Đông Triều xưa có liên quan đến triều đại nhà Trần. Các làng xã tôn một vua nhà Trần, hay vị tướng nhà Trần làm thành hoàng làng mình. Từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Duệ Tông đều được tôn làm thành hoàng làng. Bên cạnh đó, làng Hà Lôi thuộc tổng Mễ Sơn thờ Đại Liêu Phụ, Đại Liêu Tử, Bảo Huệ quốc mẫu, Thái Trưởng công chúa, Thượng Trân công chúa, Bảo Từ hoàng thái hậu. Làng Triều Khê tôn thờ vua Trần Anh Tông và An Sinh Vương làm thành hoàng. Làng Hoàng Xá thờ Phổ Hộ cư sĩ, Phổ Tế cư sĩ, Phổ Lại cư sĩ là 3 đồ đệ của Phật hoàng làm thành hoàng làng. Việc một số làng thờ vua quan nhà Trần làm thành hoàng của làng, hoặc có quy định việc thờ phụng, cúng lễ các vua Trần là lễ trọng của làng cho thấy giữa cộng đồng làng xã với các vua Trần có mối quan hệ đặc biệt ngoài quan hệ vua tôi như các làng xã phong kiến khác.
Năm 2008, công trình nghiên cứu văn bia Đông Triều được Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện. Bước đầu đã sưu tập được 167 bia, chuông với 365 bản dập, trong đó văn bia có trên 120 cái, có niên đại chủ yếu từ thời Trần, Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Các văn bia Đông Triều hiện nằm tập trung tại các đình, đền, chùa, miếu. Nội dung văn bia ở Đông Triều rất phong phú, hầu hết đều có liên quan đến di tích, dấu tích di tích, đặc biệt là các di tích thời Trần, góp phần lý giải nhiều truyền thuyết, huyền thoại, lịch sử, v.v.. Một số văn bia tiêu biểu và rất có giá trị ở Đông Triều, như: Văn bia chùa Non Đông, chùa Yên Liêu, chùa Ngọa Vân, chùa Bắc Mã, chùa Cảnh Huống; Quỳnh Lâm bi ký ở chùa Quỳnh Lâm; văn bia núi Con Mèo; cụm văn bia An Sinh từ chung; Bản phủ bi ký, Trần triều bi ký, Quải lập hậu thần bi ký, Thừa lập hậu thần bi ký ở đền An Sinh.
Về thơ văn chữ Hán, chữ Nôm, ở Đông Triều có thơ của các vua nhà Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông), của vua Lê Thánh Tông, của các quan lại như: Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, của nhóm thơ Thi xã Bích Động (gồm Trần Quang Triều, Nguyễn Ức, Nguyễn Sưởng và Nguyễn Trung Ngạn) và sau này có thơ của các tác giả người Đông Triều như: Trần Đình Thâm, Trần Công Cẩn.
Bảo tồn và phát huy vốn quý của cha ông để lại, vào quý I/2018, thị xã đã hoàn thành xuất bản bộ sách Di sản Hán Nôm Đông Triều gồm 2 tập với hơn 1.000 trang khổ lớn. Tập 1 bao gồm địa chí cổ, thần tích thần sắc, nói lên đầy đủ về địa lý tự nhiên, núi non sông ngòi, sản vật, thành trì, di tích và cả tính cách của con người Đông Triều. Phần thần tích, thần sắc nói lên lịch sử của các thần được thờ tại các đình, đền, nghè, miếu của thị xã hiện nay. Các thần đều có công giúp nước, che chở cho dân, được nhân dân các làng xã lập đền thờ và được nhiều đời vua phong kiến ban sắc phong phụng thờ. Tập 2 gồm Đông Triều huyện chí, Đông Triều huyện phong thổ ký, Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ và thơ văn Đông Triều. Tập sách cho biết cụ thể về núi sông và sự phân bố làng xã, các nghề truyền thống, các di tích lịch sử văn hóa...
Di sản Hán Nôm ở Đông Triều là những tư liệu thành văn vô cùng quan trọng không chỉ giúp chúng ta hiểu về một vùng đất mà còn biết thêm về cội nguồn, bản sắc văn hóa của dân tộc.
Phạm Học