Năm 2009, tôi được giao nhiệm vụ lập hồ sơ xếp hạng cho di tích lịch sử tiêu biểu Khe Tù (Tiên Yên). Chỉ mới nghe tới cái tên thôi, tôi đã rất muốn tìm hiểu, khám phá nó. Tôi và một đồng nghiệp được anh Bằng, lúc đó là Trung đội trưởng Trung đoàn 42 - Đoàn Kinh tế quốc phòng 327 dẫn đi xem toàn bộ khu vực di tích. Qua sân doanh trại chúng tôi đến một khu vực giống như thung lũng, cây cối, cỏ dại mọc um tùm.
Khe Tù được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1943, làm nơi giam giữ các tù nhân là người của ta được chuyển từ các nhà lao ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Hải Dương… đến để lao động khổ sai, xây dựng đồn bốt phục vụ cho ý đồ thống trị của chúng. Với vị trí địa lý thuận lợi, nơi đây cũng được thực dân Pháp chọn làm khu căn cứ hậu cần. Nhà tù Khe Tù được bố trí rất cẩn mật, xung quanh rào hai lớp dây thép gai, cổng làm rất kiên cố. Còn phía trong, rất nhiều bốt canh gác, đèn điện quét suốt ngày đêm để ngăn chặn ý định vượt ngục của tù nhân. Không những vậy chúng còn cai quản và kiểm soát tù nhân rất hà khắc.
Theo lời kể của ông Dương Văn Quốc, nguyên chiến sĩ du kích bị giam tại Khe Tù và ông Đỗ Văn Vịnh con trai liệt sĩ Đỗ Văn Vượng ở xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội, khi tù nhân bị giam giữ tại đây, thực dân Pháp đã tra tấn rất dã man. Ban ngày chúng bắt tù nhân đi xây dựng lô cốt, bốc đá tại bến Tiên Yên (bến Kho 2)... Đến đêm, tù nhân được trả về các buồng giam (5-7 người/buồng giam), một chân bị cùm còn tay bị chói bẻ quặt ra đằng sau... Tuy điều kiện lao động khắc nghiệt, bị canh giữ nghiêm ngặt nhưng với tinh thần đấu tranh anh dũng, các chiến sĩ cách mạng của ta đã bí mật thành lập Chi bộ nhà tù để hoạt động cách mạng ngay trong nhà tù; đấu tranh đòi cải thiện bữa ăn cho tù nhân; tổ chức các cuộc bỏ trốn cho anh em về với cơ quan, đơn vị tiếp tục hoạt động cách mạng để bảo vệ Tổ quốc…
Một trong số những chiến sĩ cách mạng đã trốn thoát khỏi nhà tù Khe Tù là ông Hoàng Cương (còn gọi là Nguyễn Văn Chuyên), lúc đó là cán bộ Thông tin Tuyên truyền bị bắt tại khu Nhị Chiểu (gần núi đá Hang Ma) khi đang làm nhiệm vụ kiểm tra phong trào, nắm bắt tình hình tư tưởng nhân dân trong vùng địch hậu tại huyện Kinh Môn (lúc đó huyện Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh, Thuỷ Nguyên đều thuộc tỉnh Quảng Yên). Sau khi trốn thoát khỏi nhà lao Khe Tù ông viết trong cuốn “Người từ cõi chết trở về” - Hồi ký Một thời chinh chiến, tập II (NXB, Ban Liên lạc những người kháng chiến Quảng Hồng và Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ninh): “Thế là, tôi như người từ cõi chết trở về, được rèn luyện thêm bản lĩnh cách mạng già dặn, cứng cỏi hơn xưa, phấn khởi, hăng hái tiếp tục trên chặng đường mới công tác cách mạng thật vinh dự và tự hào”.
Hiện nay, tại Khe Tù dấu tích của một khu căn cứ hậu cần còn lại không nhiều. Chỉ còn lại một số dấu tích như: nền móng của hai nhà giam, một tháp nước, một bốt canh, một bệ máy chém, một hầm nhốt tù nhân, một hầm quân sự chứa vũ khí... nhưng cũng đủ là chứng tích của một cuộc chiến tranh, ghi dấu tội ác của thực dân Pháp và những hoạt động cai trị của thực dân Pháp tại Tiên Yên.
Với ý nghĩa lịch sử to lớn, Di tích lịch sử Khe Tù đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 3922/QĐ-UBND, ngày 13-12-2011 xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Tuy nhiên, để Khe Tù phát huy được giá trị, trở thành một địa điểm thăm quan du lịch, giáo dục truyền thống cách mạng, chính quyền địa phương cần có phương án đầu tư tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích. Vì hiện nay Khe Tù đang bị xuống cấp, cần được lập quy hoạch tổng thể. Trong đó, cần phục hồi lại các nhà giam và máy chém tại địa điểm cũ; xây dựng đài tưởng niệm các chiến sĩ đã hi sinh tại di tích Khe Tù ở khu vực hầm nhốt tù nhân. Riêng tại khu vực di tích gốc nên dựng một bia ghi dấu sự kiện lịch sử diễn ra tại Khe Tù để giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước cho các thế hệ người Việt Nam; đầu tư, tôn tạo, xây dựng khuôn viên để làm cho di tích Khe Tù trở thành nơi tham quan du lịch bổ ích, là nơi giáo dục truyền thống yêu nước... Có như vậy di tích lịch sử Khe Tù mới được bảo tồn và phát huy giá trị.
Nguyễn Thị Giang (Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch)