Kể từ khi thành lập năm 1963, Đoàn Nghệ thuật Chèo Quảng Ninh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân trong tỉnh. Để làm được điều đó, Chèo Quảng Ninh luôn trăn trở tìm hướng đi cho mình. Một trong những hướng đi ấy là làm sao hiện đại hoá, mà trước hết là hiện đại hoá kịch bản sân khấu, cho phù hợp với thị hiếu của khán giả hôm nay...
Thực ra, tính hiện đại trong chèo là một yếu tố tự thân, không phải cứ đem cái hiện đại về mặt hình thức gán vào là được. Nếu cố tình mang cái hiện đại không phù hợp để “ép duyên” thì sẽ tạo ra một “mớ hổ lốn” phá vỡ tính mềm mại, trữ tình vốn có của chèo. Xem diễn của Chèo Quảng Ninh, như “Tiếng hát người Dao”, “Trái tim tượng đá”, “Ngôi sao Hạ Long”, “Tiếng sóng Bạch Đằng”, “Tiếng vọng rừng xanh”, “Đời người phu mỏ, “Dấu ấn con đường”, có thể thấy được điều đó. Yếu tố đầu tiên đã được chèo Quảng Ninh khai thác là tính chất giễu nhại, trào lộng. Giễu nhại là một tố chất của văn học nghệ thuật hậu hiện đại. Tính giễu nhại trong chèo thể hiện ngay từ điểm xuất phát là nghề ca múa và làm trò ở xứ Đông. Do tính mua vui trào lộng mà từ chữ “Trào” đọc chệch thành “Chèo”. Hề là một nhân vật trào lộng trong các vở diễn chèo truyền thống được phép giễu nhại mọi chuyện kể cả việc “giải thiêng” chế độ phong kiến cầm quyền. Tuy nhiên, chèo Quảng Ninh không xây dựng các nhân vật hề mà khai thác tính hài theo cách riêng. Nói về điều này, NSƯT Trọng Bình, Trưởng đoàn Nghệ thuật Chèo Quảng Ninh, khẳng định: “Hài là một đặc trưng của chèo, không có hài thì không có chèo. Có thể nói rằng, hài kịch hiện đại đã bị “lai chèo”. Tính hài được thể hiện ở hai tấn trò, đó là trò nhời và trò diễn. Trò nhời là câu nói gây cười, câu nói thường thâm thuý và sâu cay, nói chứ không cần diễn. Trò diễn thể hiện qua hành động gây cười của nhân vật. Chèo hiện đại có tuyến kịch nhân vật tự bộc lộ đều phải thông qua ngôn ngữ. Trong chèo hiện đại, chất hài kịch thể hiện ở hình tượng nhiều hơn là ngôn ngữ. Nó được dàn đều ra khắp vở diễn chứ không tập trung vào một nhân vật, một trích đoạn. Tính hài làm cho chèo mềm mại khi nó xen kẽ các đoạn xung đột kịch tính được đẩy đến cao trào. Hài kết hợp xen kẽ với bi sẽ làm mát dịu sàn diễn…”.
Ngoài tính hài hước, giễu nhại, thì tính trữ tình cũng là một phẩm chất của chèo. Tuỳ vào sự cấu tứ của tác giả mà hai tính chất này được gia giảm khác nhau trong từng vở diễn. Trong một số vở chèo còn kết hợp chất bi. Ví như vở “Ngôi sao Hạ Long”. Đây là vở chèo có tính chất bi tráng kể về người nữ liệt sĩ cách mạng Cả Khương cùng với các đồng chí của chị. Nhân vật chính diện mang tầm vóc sử thi nhưng vẫn mềm mại, còn nhân vật phản diện thì đã “phá vỡ tính quy phạm”, thoát khỏi “mô hình” có sẵn. Vở diễn đã đưa bối cảnh Vùng mỏ vào chèo mà vẫn ngọt ngào phong vị truyền thống. Tính trữ tình làm cho chèo hợp với những đề tài truyền thống. Còn tính hài hước sẽ làm cho chèo dễ dung nạp những đề tài hiện đại.
Ca và kịch theo một tính chất ước lệ nhất định sẽ tạo ra chèo. Chèo hiện đại sử dụng lời thoại nhiều hơn lời hát. Trong chèo, có sự cách điệu cấu trúc tự sự, nhân vật tự kể về mình nhiều hơn là đối thoại. Giải thích về điều này, NSƯT Đỗ Trọng Bình cho rằng: “Chèo Quảng Ninh hiện đại ở chỗ nó vẫn giữ được cái “hồn cốt” của Chèo và được phả vào đó phong cách sôi động, nhanh gọn của cuộc sống công nghiệp. Lời thoại được tăng cường, lời hát ít có những tiếng đệm, chêm xen, đưa đẩy…”. Dùng lời thoại nhiều hơn lời hát, chèo Quảng Ninh đã đưa tốc độ diễn nhanh kết hợp với tính thẩm mỹ hiện đại để truyền hơi thở mới của đời sống đương đại. Nó đảm bảo tính chất của chèo hiện đại ở sự nhanh gọn, dung lượng thông tin phong phú. Hiện thực cuộc sống đương đại ở Vùng mỏ hiện ra khá rõ nét trong các vở diễn của Chèo Quảng Ninh. Từ năm 1999, Chèo Quảng Ninh đã xây dựng vở “Tiếng vọng rừng xanh” ghi dấu cống hiến của Đoàn trong việc khai thác đề tài hiện đại tại địa phương. Nội dung vở chèo đề cập đến một vấn đề rất thời sự, đó là việc bảo vệ tài nguyên rừng… Vở diễn xây dựng xung đột kịch giữa một cán bộ kiểm lâm với bọn lâm tặc. Với cốt truyện được xây dựng khá éo le, pha chút huyền thoại, kết hợp tự sự với trữ tình, vở diễn vừa thể hiện được tính hiện đại lại vừa giữ được bản sắc của chèo truyền thống. Không dừng ở đó, trong Hội diễn Chèo chuyên nghiệp năm 2005 được tổ chức tại Quảng Ninh, Chèo Quảng Ninh đã cống hiến cho khán giả vở diễn “Đời người thợ mỏ”. Vở diễn được đón nhận nồng nhiệt bởi nó đã phản ánh sinh động truyền thống đấu tranh bất khuất của công nhân mỏ bằng một ngôn ngữ sân khấu đặc trưng của nghệ thuật chèo…
Phát huy những kết quả đó, hiện nay, chèo Quảng Ninh đang đi sâu khai thác những đề tài đương đại. Vở diễn “Dấu ấn con đường” (kịch bản: Công Bằng, đạo diễn: NSND Bùi Đắc Sừ) đã được đưa về các vùng nông thôn công diễn. Nội dung kịch bản xoay quanh chủ đề xây dựng nông thôn mới, phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai luồng tư tưởng bảo thủ và tiến bộ. Khác các vở diễn trước, “Tiếng hát người Dao” là vở diễn xây dựng hình tượng người dân tộc thiểu số đầu tiên của Chèo Quảng Ninh. Vở diễn thể hiện xung đột của đồng bào Dao trong quá trình đấu tranh cách mạng cũng như trong công cuộc xây dựng đời sống mới. Cái hay mà vở diễn đã đạt được là sự kết hợp một cách hài hoà giữa tinh hoa sân khấu chèo với bản sắc văn hoá, những phong tục tập quán đặc trưng của người Dao.
Nghệ thuật là không gian rộng mở của sáng tạo. Tuy nhiên, mọi sự sáng tạo đều dựa trên sự kế thừa nền tảng truyền thống. Đi ra ngoài điều đó, người nghệ sĩ sẽ như kẻ bộ hành mệt mỏi, luẩn quẩn “đi tìm đường chân trời”... Khai thác bản sắc truyền thống kết hợp với hiện đại hoá kịch bản sân khấu, Chèo Quảng Ninh đã và đang góp phần làm cho nghệ thuật chèo đến gần với khán giả hôm nay hơn.
Phạm Học