Đòi hỏi bức thiết trong tiến trình CNH-HĐH

Qua 5 năm gần đây cơ cấu kinh tế của tỉnh ta có bước chuyển dịch khá quan trọng, lao động ở khu vực nông nghiệp giảm dần, ở khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ tăng nhanh. Mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 2,1 vạn lao động; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng từ 76% (năm 2000) lên 80% (năm 2005). Để góp phần tác động mạnh đến lực lượng sản xuất ở khu vực nông thôn tỉnh đã xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề TTCN giai đoạn 2006 – 2015 và định hướng đến 2020.

Đòi hỏi bức thiết trong tiến trình CNH-HĐH ảnh 1

Sản xuất lưới đánh cá ở Công ty TNHH Công Sưu (Đầm Hà).

Hiện nay sản xuất CN - TTCN ở tỉnh ta chủ yếu là gốm sứ, thuỷ tinh với 98 cơ sở thu hút 3.200 lao động; thủ công mỹ nghệ 155 cơ sở (chủ yếu là hộ gia đình) có 208 lao động; nghề mộc chế biến gỗ 295 cơ sở với 1.254 lao động; rèn, sửa chữa cơ khí 167 cơ sở  với 524 lao động; dệt may, thêu ren 981 cơ sở tạo việc làm  cho 1.764 lao động; đóng tàu thuyền có 41 cơ sở với 693 lao động. Giá trị sản xuất công nghiệp của những ngành nghề TTCN đạt bình quân 270 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng 29,37% trên tổng giá trị công nghiệp địa phương của tỉnh. Trong đó một số cơ sở tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề phát triển rõ nét là: Gốm sứ năm 2001 đạt 450.000 sản phẩm đến năm 2005 đạt 7.335.000 sản phẩm, tăng 16,3 lần; sửa chữa và đóng mới tàu thuyền năm 2005 tăng 2,6 lần so với 2001; các mặt hàng thuỷ tinh dân dụng, quần áo, giày dép, sản xuất đồ mộc tăng 1,7 lần... Những năm gần đây nhiều cơ sở sản xuất có quy mô lớn như Công ty TNHH Quang Vinh và Công ty cổ phần Quang mỹ nghệ đã đầu tư 30 tỷ đồng phát triển sản xuất đưa hàng gốm sứ đạt sản lượng cao hơn.

Lao động của công nghiệp ngoài quốc doanh và TTCN là 23.300 người, chiếm 7,85% lao động nông thôn, trong đó lao động làm nghề TTCN có khoảng 14.900 người, đó là yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy công nghiệp nông thôn.

Quảng Ninh có lịch sử làng nghề cần phải phục hồi phát triển, trong đó có những nghề đặc sắc có sức tiêu thụ cao như: Nghề sành sứ Đông Triều với nhiều loại men đặc sắc như men màu, men chảy, men ngọc thời Lý và các hoa văn trang trí trong lớp men đều được vẽ bằng tay. Đây là dòng sứ nặng lửa độ nung đạt 1.250 độ C, sản phẩm không bị thẩm thấu nước, không phai mờ, không bị khuẩn hoá. Thuyền nan đan bằng tre có truyền thống hơn 200 năm ở làng nghề Hưng Học (Nam Hoà - Yên Hưng). Thuyền nan đan bằng cật tre già vót nhẵn đan kỹ kết hợp với sơn quét chống thấm nước là mặt hàng ưa chuộng của khách hàng nhiều tỉnh như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình... Mặt hàng guộc, đót phát triển mạnh ở vùng cao Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu... để tết những hàng thủ công như đĩa, giỏ, làn... là những sản phẩm có sức tiêu thụ cao trong thị trường dịch vụ, du lịch. Mặt hàng thảm cọ được sản xuất ở Quảng Yên, nhiều người thích dùng vì đệm cọ toả ra mùi thơm dễ chịu. Nghề chăn tằm dệt lụa ở Quảng Ninh có từ lâu đời. Người Tày ở các huyện miền Đông có loại lụa đặc sắc nhiều lớp go, trên mặt lụa nổi hoa dâu hình vuông, hình quả trám đều đặn. Ngoài lụa, bà con dân tộc còn dệt được các sản phẩm như vải cạp xá, vải xanh xi lâm; ở Trà Cổ (Móng Cái) dệt màn lụa có ô hình lục lăng có độ bền 20 năm. Nghề làm thuyền buồm cánh dơi có hàng trăm năm trên các đảo Quan Lạn, Minh Châu (Vân Đồn) với kiểu thuyền đi biển lớn, lườn vỏ chia làm 3 buồm chịu được gió cấp 5 đến cấp 8. Thuyền buồm cánh dơi hơn hẳn loại thuyền cánh vuông (Kẹo lạc) dễ bị bão lật và trong xu thế phát triển du lịch sinh thái biển đảo việc vực dậy nghề này có tác động tích cực đến cảnh quan và dịch vụ. Nghề điêu khắc than có từ 1958 và được thành lập xưởng sản xuất tập trung năm 1960, qua đó phát triển khá phong phú với nhiều sản phẩm. Việc gắn kết sản phẩm mỹ nghệ với thị trường du lịch sẽ mở ra hướng phát triển ổn định bền vững.

Để khơi dậy thế mạnh làng nghề gắn với tiến trình CNH-HĐH đi đôi với phát triển dịch vụ nông thôn là một trong những động lực chính để xoá đói giảm nghèo, tỉnh ta đã quy hoạch phát triển làng nghề hướng tới mục tiêu: Duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp dạng tồn tại, khôi phục các nghề đã mất, tổ chức sản xuất ngành nghề TTCN ở các vùng ven đô thị, khu du lịch, khu kinh tế, cửa khẩu. Quy hoạch phát triển một vùng nguyên liệu song, mây, tre, gỗ, cói... Trong quy hoạch phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh đang tập trung vào 4 lĩnh vực chính, có làng nghề gốm sứ, thuỷ tinh đang có thế mạnh tập trung ở Đông Triều, mỗi làng nghề hay một khu vực sản xuất có từ 15 đến 20 hộ, cụm công nghiệp làng nghề phải rộng từ 5 - 10 ha. Dự kiến giai đoạn 2006 - 2010 số cơ sở sản xuất từ 90 lên 200 doanh nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp loại hình làng nghề vùng đạt 277,513 tỷ đồng. Phát triển làng nghề mây tre đan tập trung ở Nam Hoà, Hiệp Hoà, Hoàng Tân (Yên Hưng) và sẽ phát triển tại xã Vạn Yên, Ngọc Vừng (Vân Đồn); Cộng Hoà (Cẩm Phả); Tiên Lãng, Yên Than (Tiên Yên) và các huyện Ba Chẽ, Hải Hà, Đầm Hà, Móng Cái. Đến 2015 sẽ có 14 làng nghề loại hình này. Nghề khắc than đá hiện tại ở Hạ Long, Cẩm Phả có 70 thợ điêu khắc và 40 hộ sản xuất thủ công cung cấp khá thường xuyên cho nhu cầu tiêu dùng và du lịch. Theo quy hoạch đến 2010 tổng giá trị đạt 2,552 tỷ đồng, mức độ tăng trưởng bình quân 10 đến 15%/năm. Ngành nghề đồ gỗ như mộc dân dụng, mộc mỹ nghệ phát triển rộng khắp. Nhiều nơi đã tổ chức khá tốt như Hoành Bồ, Tiên Yên, Ba Chẽ, Uông Bí, Cẩm Phả để làm các loại ván sàn, gỗ bao bì xuất khẩu, sản phẩm gỗ lũa, tranh mỹ nghệ bằng gỗ thông… Trong chương trình phát triển làng nghề đến năm 2010 sẽ đạt tổng giá trị 140,323 tỷ đồng và đến 2015 đạt 271 tỷ sản lượng dự kiến tăng bình quân 15%/năm. Ngoài ra tỉnh sẽ phát triển một số nghề truyền thống ở 10/14 địa phương cấp huyện (từ 18 đến 29 làng nghề). Riêng một số địa phương không thành lập làng nghề như TP Hạ Long, Cẩm Phả, Đầm Hà, Cô Tô vẫn quan tâm phát triển các ngành nghề như làm đồ sơn mài, tranh đá quý, hàng lưu niệm, than đá mỹ nghệ, mây tre đan và sửa chữa tàu thuyền, chế tác ngọc trai.

Với hướng phát triển ngành nghề TTCN và làng nghề sẽ tạo sức bật kinh tế của một vùng nông thôn rộng lớn mang lại hiệu quả rõ rệt trong mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đưa nông thôn có bước tiến xa hơn trong phát triển CN - TTCN theo định hướng CNH - HĐH.

Cùng chuyên mục