"Dòng thời gian" là tập thơ đầu tiên Trần Đức Chính in riêng, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành quý 2/2018. Tập thơ được chia làm ba phần: Ra trận, Ký ức học trò, Thợ mỏ và hoài niệm.
Trần Đức Chính là cán bộ ở Mỏ Hà Tu, sinh sống, gắn bó cả đời với vùng đất Hạ Long. Ông đã từng được giải các cuộc thi thơ như giải thưởng thơ Lê Thánh Tông, giải cuộc thi thơ của ngành Than. Trần Đức Chính từng tham gia mặt trận Biên giới năm 1979, rồi trở về học Đại học Mỏ địa chất và gắn bó với mỏ đến khi nghỉ hưu.
Ông yêu thơ, gắn bó với Câu lạc bộ Thơ của Công ty Than Hà Tu. Đọc hết tập thơ, thấy tác giả khá cẩn trọng với công việc chữ nghĩa, nhiều bài cảm xúc dâng trào ở mỗi khúc rẽ cuộc đời. Đó là những ngày giáp mặt nóng bỏng với chiến tranh Biên giới khi còn là một chàng sinh viên đầy mộng mơ. Những cảm xúc nhớ quê hương, nhớ mẹ da diết, những ngày lăn lộn với công việc làm mỏ. Tất cả là những câu chuyện của một người thơ, người lính - sinh viên rất nhiều xúc cảm, rất nhiều cung bậc đã khiến người đọc lay động.
Tác giả Trần Đức Chính đã mở đầu tập thơ bằng phần Ra trận, ghi lại cảm xúc của những sinh viên ngày ấy hiển hiện tinh thần, khí phách của một thời thanh xuân rực lửa: “Chúng tôi những sinh viên trường mỏ/ Mỗi đứa mỗi quê nhưng tất cả đã một lòng/ Xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ… /Nào bạn ơi ta cùng đi chiến đấu/ Hẹn ngày về Tổ quốc thắm màu xanh.”
Và mùa xuân ấy, người chiến sĩ sinh viên ấy không được sum họp ăn Tết với gia đình. Anh ăn Tết ở chốt tiền tiêu với đồng đội. Mùa xuân ấy đã hiện diện trong thơ anh như một nốt nhạc trầm trong bản hùng ca giữ nước của dân tộc mà anh là người có mặt: “Nơi anh không có cành đào Nhật Tân/Anh vẫn biết mùa xuân về trên chốt/ Ấy là khi tiếng chim non ríu rít/ Trên những lùm cây quanh điểm tựa chiến hào/ Ấy là khi mầm lau sậy vươn cao/ Như tháp bút vẽ vào khoảng trời xanh vô tận… Người lính biết mùa xuân về trên chốt.”.
Đọc những dòng thơ này thực sự là những nỗi niềm đắng đót mà người trong cuộc là tác giả đã chuyển tải thông điệp chiến tranh, dù chỉ là khoảnh khắc, nhưng khoảnh khắc không thể nói bằng lời. Những cảm xúc ở phần Ra trận anh đã dành hết những ưu tư, thương yêu còn mãi trong trái tim người lính, để mang đến cho độc giả một niềm cảm xúc tự hào và kiêu hãnh tinh thần dân tộc.
Ở phần Ký ức học trò, tác giả Trần Đức Chính lại cho người đọc cùng chung vui những kỷ niệm trong trẻo thơ ngây của một thuở học trò đầy mộng tưởng. Nhưng cũng là những khoảnh khắc của một thời nửa đất nước còn chia cắt vì chiến tranh. Những câu thơ mà ai sinh cùng thời ấy cũng thấy có mình trong đó: “…Loa đưa tin máy bay rơi, chiến trường thắng Mỹ/ Kẻng báo động, báo yên sấp ngửa tuổi thơ/ Cuộc chiến lùi xa mấy mươi năm, thi thoảng vẫn ngủ mơ/ Tiếng mẹ gọi báo yên rồi, cõng em lên khỏi hầm trú ẩn...”.
Đó là những nỗi niềm day dứt trong dòng thời gian lịch sử gắn với số phận của dân tộc, của một thời đạn bom trong hòa bình. Và có lẽ, phần thứ ba có tên Thợ mỏ và hoài niệm, tác giả Trần Đức Chính đã nén những cảm xúc của mình vào những câu chữ tưởng chừng đơn điệu mà chứa đựng trong đó là cả một miền thương nhớ nơi mảnh đất anh đã gắn bó cả cuộc đời mình với tầng than, với moong sâu, với tiếng ầm ì của xe, của máy trên công trường than. Để rồi anh có những bài thơ đẹp từ cái tên, như: Mắt than, Vỉa mỏng, Đêm thấy ta - thợ mỏ… Cảm xúc được dâng trào cùng với những câu thơ mang hơi của biển, của nắng gió vùng than: “…Những mùa than hoa trái dâng đời/ Nụ cười lại nở trên môi ngàn thợ mỏ/ Đôi mắt than hồi sinh bao xóm thợ/ Say đắm cặp vỉa bảy, tám - Mắt than” (Mắt than). Ấy là tình yêu máu thịt của người thợ với mỏ, với than, chắc chắn không thể so sánh với những ngành nghề khác.
Đến với “Dòng thời gian” của Trần Đức Chính, độc giả sẽ như được trải qua những năm tháng nhọc nhằn nhưng cũng đầy những niềm vui của một thời vừa đội mũ rơm vừa đi học, vừa là sinh viên đã phải rời giảng đường đi chiến đấu. Và cả những niềm vui khó nhọc chia ngọt sẻ bùi trên các tầng than, xưởng máy, để rồi lại trở về nép vào quê hương, nơi có người mẹ như mái nhà ấm êm đợi những đứa con trở về: “… Một trăm năm, ba cuộc chiến tranh/ Mẹ lần lượt tiễn từng con ra trận/ Chúng con xa mẹ giấu dòng nước mắt/ Khúc ruột không liền, lòng mẹ quặn đau…” (Mừng tuổi mẹ). Và hy vọng, sau “Dòng thời gian”, người thợ mỏ Trần Đức Chính sẽ vẫn tiếp tục cống hiến cho bạn đọc yêu thơ những bài thơ mới hơn, hay hơn nữa.
Nhà văn Vũ Thảo Ngọc