Cơn mưa cuối mùa hạ hình như vẫn còn lưu luyến những tầng mây ướt sũng đã nhẹ nhàng đổ nước xuống, chỉ vừa đủ trắng bóng những con đường bê tông chạy dài khắp thôn xóm. Cánh đồng Yên Lâm, lúa lên xanh mướt. Gặp trên đường làng nhiều thanh niên nam nữ cười nói vui vẻ, ăn vận lịch sự, ngồi trên những chiếc xe máy sang trọng… Chợt nhớ đến câu ca dao thuở xưa: “Trời mưa cho ướt lá cà/ Đố ai lấy được đàn bà Yên Lâm”…
Thế mà, từ xứ Nghệ ra đây lập nghiệp, nghèo trắng tay, tôi đã cưới được một thôn nữ Yên Lâm, đến nay con cháu đề huề. Đáng tự hào lắm chứ. Thật ra cả xóm Chè thuộc Yên Lâm, xã Đức Chính, huyện Đông Triều này, hồi tôi mới về ở rể, nghèo lắm. Cả làng chỉ có một hai nhà ngói, dùng chung một cái giếng mà đến mùa hạn hán phải chắt từng gầu đục ngầu. Làng không có một học sinh cấp ba nào. Dù 100% vào hợp tác xã nông nghiệp nhưng đời sống dân làng vẫn chật vật. Ngày công chỉ 5, 6 lạng thóc. Hầu như nghề buôn bán bị ngăn trở. Dân phải vào rừng chặt cây lấy củi, chặt dây bện thừng, đẽo cày, hái trám, hái sim, vỡ hoang trồng chè đem về bán chợ Cột (chợ huyện) mới tạm đủ sống qua ngày. Tối đến, đèn dầu le lói không đủ sáng những nhà tranh vách đất thấp lè tè. Nghèo đến độ nếu không phải là tối họp Đoàn, họp Đội thì 8, 9h làng xóm đã ngủ say, chỉ thỉnh thoảng dội lên tiếng chó sủa râm ran...
Anh Nguyễn Văn Phương, Chánh văn phòng UBND xã, đưa tôi vào xóm Trại, cũng trên chiếc xe máy phóng vi vu. So với xóm Chè của tôi, xóm này xưa kia còn nghèo hơn nhiều. Nó là “vùng sâu, vùng xa” của Đức Chính, tuy chỉ cách trung tâm xã một cánh đồng hẹp. Đấy là xóm vườn đồi, đất cằn đá sỏi. Dân quanh năm vào rừng đốn cây, chặt tre, chặt róc gánh về bán. Cả làng toàn nhà tranh vách đất. Song được cái an ninh tuyệt vời. Hồi đầu chiến tranh chống Mĩ, Trường phổ thông cấp 3 Đông Triều chúng tôi sơ tán vào đó. Đêm ngủ không cần buộc cổng khoá cửa. Xe đạp để ngoài sân qua đêm mà không sợ mất. (Xe đạp hồi đó đối với mọi người là một gia tài lớn, chẳng phải ai cũng sắm được). Quần áo đẹp phơi trên dây ngoài vườn, ngoài ngõ, quên cất mấy ngày vẫn y nguyên… Nhưng dân thì quá nghèo. Trên xà nhà lủng lẳng treo dăm bộ áo quần nâu bạc màu đa phần vá víu chằng chịt. Chõng tre. Bàn ghế gỗ tạp với bộ ấm chén đã sỉn màu. Phích nước Trung Quốc, nếu có, được giữ như của gia bảo, tối đến cất trong tủ, khoá lại, sợ trẻ con đụng vào làm vỡ. Bữa ăn quá đạm bạc. Cơm độn sắn khoai. Thức ăn thì rau luộc là chính. Đủ loại, rau muống, mùng tơi, rau dền, rau má... nước mắm cáy tự chế. Thỉnh thoảng có đĩa cá rô, cá quả hoặc tôm tép bắt được ngoài đồng hay dọc bờ mương được kho lên với ít quả trám hay lá thèn đen. Thịt chỉ hiện hữu vào các ngày Tết hoặc giỗ chạp. Gà nuôi lấy trứng đem chợ bán. Cả làng chỉ có một học sinh cấp ba, vài học sinh cấp 2 và cấp 1...
Thế mà sau mấy chục năm xa quê, nay về đã khác hẳn. Qua các xóm thôn đã gắn bó với tôi nửa đời người, tôi không còn nhận ra được nữa, cứ lạc lung tung. Tuy vẫn những khóm tre xanh um tùm, mát rượi, tuy vẫn ngõ ngách ngoằn ngoèo khi lên dốc, khi xuống dốc, nhưng nay là đường bê tông sạch sẽ, là những ngôi nhà dẫu một tầng vẫn khang trang, là tường gạch vây kín vườn thay cho hàng dâm bụt, hàng xương rồng xưa kia. Đập vào mắt tôi là khá nhiều nhà hai tầng xây kiểu mới. Cái xóm Trại heo hút ngày xưa phải dắt xe đạp hàng cây số bỗng đổi thay lạ thường. Tôi rẽ vào nhà ông Cư, bạn quen cũ nay đã ở tuổi bát tuần. Ông đang đi chơi cầu lông. Chiều nào cũng vậy. Cô con gái vừa xây ngôi nhà 2 tầng. Cậu con trai có ô tô chở thuê, cùng vợ từng qua nhiều nghề, chăn nuôi có, buôn bán có, chạy xe đường dài có, cũng sắp hoàn thành ngôi nhà hơn 1 tỉ. Những gia đình kinh tế khá giả như ông bạn của tôi đây trong thôn không hiếm. Như gia đình thôn phó Lê Trung Sơn đi lên từ kinh tế vườn, vững vàng với ngôi nhà hai tầng cùng các con ổn định nghề nghiệp thu nhập khá cao. Như nhà ông Nguyễn Văn Bằng, Bí thư chi bộ thôn, một con người hiền lành, dễ gần gũi, con trai vừa xây xong ngôi nhà hai tầng. Dĩ nhiên, để có được cơ ngơi như ngày nay, họ đã trải qua những tháng ngày vất vả cam go, như con dâu nhà ông Cư có lúc buôn bán bị phá sản, phải gây dựng lại từ đầu. Trai gái trong làng đều có việc làm, thu nhập ổn định. Người vào xí nghiệp sản xuất gạch đóng trên địa bàn, lương tháng 4, 5 triệu. Kẻ đi xây, việc làm quanh năm. Không bó buộc vào nghề nông, những lúc rảnh rỗi, dân làng thường làm thêm nghề phụ. Hoặc nuôi lợn nuôi gà nuôi vịt. Hoặc buôn bán ở các chợ. Có tiền nhiều nhà sắm các loại máy phục vụ nông nghiệp như máy gặt đập, máy xay xát, máy gieo thẳng hoặc xe công nông. Theo lời chị Nguyễn Thị Hoa, thôn trưởng, thì bình quân thu nhập đầu người ở cái xóm Trại nổi tiếng nghèo trước đây là từ 30 đến 40 triệu trong một năm. Với giá cả ở nông thôn hiện nay, thu nhập như vậy đủ sống sung túc…
Tôi vào thăm nhà văn hoá thôn, cả xã thôn nào cũng đã xây được nhà văn hoá kiểu này, càng hiểu thêm đời sống vật chất tinh thần ở đây. Không còn hộ nghèo. Hai trường tiểu học và phổ thông cơ sở đều xây hai tầng, đẹp đẽ khang trang...
Anh Phương đưa tôi trở lại văn phòng uỷ ban xã. Bí thư kiêm Chủ tịch Trần Văn Nam, Phó Bí thư kiêm Phó Chủ tịch Tiêu Văn Phong tiếp tôi rất niềm nở, thân mật. Sau khi tóm tắt những thành tích nổi bật năm qua như xã Đức Chính là đơn vị xuất sắc của huyện Đông Triều, các mặt đều đạt những thành tích đáng phấn khởi, hai vị cán bộ xã phác hoạ con đường đi tới: Vài năm nữa huyện Đông Triều sẽ lên cấp thị xã, Đức Chính thành phường, chắc sẽ đổi thay lớn. Mong gặp lại anh, chắc chắn lúc đó sẽ hấp dẫn hơn nhiều...
Chia tay vùng quê yêu dấu, dù rất vui vẻ, tôi vẫn thấy áy náy. Thứ nhất, việc đổi tên các thôn xóm bằng các con số khô khan như xóm Chè của tôi là thôn 4, xóm Trại là thôn 2... đã làm mai một đi những cái tên tồn tại hàng trăm năm nay. Chúng gắn liền với đời sống tâm linh của dân làng, gắn liền với các truyền thuyết cổ tích rất hấp dẫn. Liệu rồi, với những cái tên khô khan ấy, sau này ai còn nhớ những câu phương ngôn như “Khoai làng Trạo, gạo xứ Bắc”, hay câu ca dao quen thuộc: “Trời mưa cho ướt lá khoai/Đố ai lấy được con trai Trạo Hà” v.v..?
Áy náy thứ hai của tôi là an ninh thôn xóm, đặc biệt khi trở thành phường phố. Phức tạp nhất là lớp trẻ choai choai mới lớn lên. Cách đây không lâu Đức Chính từng xảy ra nạn nghiện hút, trộm cắp rất nghiêm trọng, chủ yếu trong đám thanh niên ít được giáo dục chu đáo. Nay hiện tượng này đã được khắc phục. Tuy nhiên, tiềm ẩn những tiêu cực này vẫn cần phải cảnh giác cao độ, không thể coi thường.
Cuối cùng là vấn đề đất đai. Nhìn những thửa ruộng màu mỡ bị san lấp mà xót ruột. Các cán bộ lão thành đều nói với tôi như vậy. Chẳng những Đức Chính mà khắp huyện Đông Triều, mênh mông đồng ruộng đất đai, dự án bỏ cho cỏ mọc hoang từ chục năm nay. Một tài nguyên vô giá đang bị lãng phí ghê gớm. Nghe bảo, lên thị xã, lên phường phố, đất đai nông nghiệp càng bị thu hẹp nhiều hơn. Đất lên giá vùn vụt. Đằng sau những dự án thầu đất, mua đất, bán đất, không ít người dân đặt câu hỏi quanh sức hấp dẫn của túi tiền hàng tỉ.
Điều an ủi lớn nhất của tôi là người dân Đức Chính quê tôi rất thuần. Cán bộ rất trẻ, lại rất đoàn kết, cùng nhau chung sức chung lòng gánh vác việc chung. Đó là nhân tố chủ yếu tạo nên triển vọng của một vùng quê ngày càng phồn vinh đẹp đẽ.
Hoàng Quỳnh Trâm