Hạ Long - Nguồn cảm hứng của thi ca

(Nhà thơ Trần Nhuận Minh trò chuyện với phóng viên Báo Quảng Ninh)

- Thưa nhà thơ Trần Nhuận Minh! Là một nhà thơ nổi tiếng, đồng thời là một nhà văn hoá, luôn quan tâm đến đời sống thi ca cả trong quá khứ và đương đại, lại là người rất yêu Hạ Long, gắn bó với Hạ Long, từng bỏ công sưu tầm, biên soạn và xuất bản Tuyển tập thơ Vịnh Hạ Long từ những năm 70 của thế kỉ trước, theo ông, thơ viết về Hạ Long có từ bao giờ? Và tên gọi “Vịnh Hạ Long” được nhắc đến trong thơ từ bao giờ?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh.
Nhà thơ Trần Nhuận Minh.

+ Trong tư liệu mà tôi hiện có, bài thơ đầu tiên viết về vùng vịnh, mà hiện nay ta gọi là Hạ Long, có từ thời nhà Trần. Nhà thơ khai sáng, mở ra một dòng chảy ngời sáng trong thơ Việt Nam về Vịnh Hạ Long là vị vua anh hùng dân tộc Trần Thánh Tông (1240-1290). Bài thơ HÀNH YÊN BANG PHỦ (Đi chơi phủ Yên Bang): “Triêu du phù vân kiệu/ Mộ túc minh nguyệt loan/ Hốt nhiên giai đắc thú/ Vạn tượng sinh hào đoan” (Sớm chơi núi mây nổi/ Đêm ngủ bến trăng thanh/ Bỗng nhiên được thú lạ/ Ngọn bút nảy muôn hình - Phan Võ dịch). Đến bây giờ theo tôi, đây vẫn là một trong những đỉnh cao của thơ cổ điển Việt Nam, không chỉ về Vịnh Hạ Long. Có điều, Phù Vân nếu được coi là tên dãy núi cao Yên Tử, vậy thì theo cặp ứng đối của thơ cổ, Minh Nguyệt loan phải là tên vũng hay vịnh nước sâu, vì thế có người cho rằng, Vịnh Minh Nguyệt là tên Vịnh Hạ Long ở thời Trần. (Giả thuyết này tất nhiên là cần lưu ý, nhưng chưa có cơ sở chắc chắn lắm!). Còn sau đó, các nhà thơ đời sau viết về Vịnh Hạ Long tôi thấy không ai nhắc đến tên vịnh. Người đầu tiên ghi tên vịnh trong thơ là Hồ Xuân Hương (1772-1822) vợ quan tham hiệp trấn Yên Quảng (tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Bài thơ ĐỘ HOA PHONG (Qua vũng Hoa Phong), bà viết năm 1813, in trong tập thơ Lưu Hương kí, 1814, có câu mở đầu: “Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong” (Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong). Vậy có nghĩa là từ trước, không biết từ bao giờ, đến 1813 thì vịnh có tên là Hoa Phong. Năm 1841, vì kiêng huý của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn, Hoa Phong đổi thành Nghiêu Phong. Không ai biết tên Nghiêu Phong tồn tại đến bao giờ. Theo tư liệu hiện có, đã công bố, chữ “Vịnh Hạ Long” xuất hiện đầu tiên trong một bài báo, do chính Hăng Rivie, kẻ chỉ huy cuộc xâm lăng Bắc Kì của quân Pháp, viết, đăng trên báo Le Temps (Thời gian) ở Pari, năm 1883, có câu: “Ngày 12-3, tôi chiếm vịnh Hạ Long”. Vậy 3 chữ “Vịnh Hạ Long” phải có từ lâu trước đó. Vậy mà trong thơ, muộn màng thay, chỉ có từ năm 1957, trong bài thơ GIẤC MỘNG DIỆU HUYỀN của Tế Hanh: “Vịnh Hạ Long có rồng không, chẳng biết”. Sau đó là Huy Cận, 1958 “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”, và Xuân Diệu, 1959: “Ta chào ngươi, Hạ Long nghìn vạn đảo”…

- Thế còn “kì quan Vịnh Hạ Long” thì theo ông, xuất hiện trong thơ từ bao giờ? Và vì sao Hạ Long lại hấp dẫn các nhà thơ đến thế?

+ Ai cũng biết người đầu tiên gọi Hạ Long là kì quan là Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi (1380-1442), trong bài thơ VÂN ĐỒN, viết khoảng năm 1441: Lộ nhập Vân Đồn san phục san/ Thiên khôi địa thiết phó kì quan” (Đường đến Vân Đồn lắm núi sao/ Kì quan đất dựng giữa trời cao). Đường thuỷ đến Vân Đồn tất phải đi qua vùng biển bây giờ gọi là Vịnh Hạ Long. Tôi đề xuất thêm một giả thuyết, đã công bố báo chí nhiều lần, là: Phạm Sư Mạnh, một nhà thơ lớn đời Trần (trước Nguyễn Trãi khoảng 72 năm, năm 1369), trong bài thơ đề ở núi Hang Son (Uông Bí) có câu: “Vũ trụ kì quan Dương Cốc nhật” (Phía mặt trời mọc là kì quan vũ trụ). “Dương Cốc nhật” là nơi mặt trời mọc… Đứng ở Hang Son mà nhìn thì nơi mặt trời mọc là vùng biển đảo ngày nay ta gọi là Vịnh Hạ Long. Đến năm 1961, trong bài thơ Thăm Vịnh Hạ Long, nhà thơ Sóng Hồng (bút danh đồng chí Trường Chinh) viết: “Kì quan thế giới là đây/ Việt Nam thứ nhất cảnh này thần tiên”…

Còn vì sao Vịnh Hạ Long hấp dẫn các nhà thơ ư? Vô cùng dễ hiểu: Vịnh Hạ Long rất đẹp. Tôi có câu thơ: “Như Vịnh Hạ Long, biển nắng có vẻ đẹp của nắng, núi mưa có vẻ đẹp của mưa/ Em đẹp hơn xưa, em cũng trẻ hơn xưa”...  Nghĩa là trong bất cứ thời tiết nào, trong bất cứ tâm trạng nào, Vịnh Hạ Long cũng đẹp. Chỉ có Cái Đẹp mới hấp dẫn các nhà thơ mà thôi. Hơn nữa Cái Đẹp của Vịnh Hạ Long còn thử thách tài năng của các nhà thơ nữa. Ai là nhà thơ đã đến đây cũng muốn tự làm một phép thử xem tài năng của mình ở cấp độ nào? Sự thử thách ấy cũng tạo ra một sự hấp dẫn rất đặc biệt. Tôi nghĩ không ít bài thơ, nhất là của các nhà thơ nước ngoài, đã ra đời trong tình huống như thế…

- Những bài thơ viết về Hạ Long được coi là hay, theo ông phải đạt được những tiêu chí nào?

+ Thơ về Vịnh Hạ Long là thơ Việt Nam về một kì quan, nên không có gì khu biệt nó với thơ nói chung. Theo tôi, thơ hay của mọi thời đại, phải được đo bằng “tiêu chí Nguyễn Du”: “Phong sương được vẻ thiên nhiên/ Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi”. Những bài thơ được xem là hay, xưa hoặc nay, dù viết ở đâu, chỉ có thể được đo bằng một cái thước duy nhất như thế.

- Vậy còn ông, những bài thơ ông viết về Hạ Long thường ra đời trong hoàn cảnh như thế nào? Và dựa trên cảm xúc ra sao? Nó có gì khác với khi ông viết về đề tài khác hay không? Vì sao?

+ Xin thưa ngay là không! Những bài thơ đã đến với tôi từ Hà Giang, mũi Cà Mau, hay từ nước Nga, Ukraina và các quốc gia thuộc Liên Xô (cũ), Trung Hoa, Hồng Kông, Ấn Độ, Canađa… mà tôi có dịp sang thăm, hoặc ghé qua, cũng như thế. Vì sao ư? Vì thơ đối với tôi, viết về cái gì, ở đâu, đều không quan trọng. Cái quan trọng duy nhất là viết như thế nào, để người ở trong nước hay ở ngoài nước, đều đọc được mình và trong các thời gian khác nhau, thơ mình không lạc hậu lắm, nghĩa là các thế hệ sau, mình  vẫn hi vọng là họ còn đọc thơ mình. Do đó, tôi viết về Hạ Long không phải vì Hạ Long, mà vì cái chỉ có Hạ Long mới giúp tôi bộc lộ ra được...

Tôi có 6 bài viết trực tiếp về Vịnh Hạ Long trong khoảng thời gian từ 1970 đến 1980, với các tình huống khác nhau trong đời sống xã hội, vẫn mô tả là chủ yếu, nhưng ở thời đó, tôi đã có một cố gắng là thuận theo tự nhiên, để thể hiện cái tự do và hào phóng của nó. Ví như mô tả sóng rất dữ dội khi tôi theo thuyền đi đánh cá trên biển Cô Tô: “Thấy cánh chim bay ngửa lại bay nghiêng/ Thấy bụng ta thoáng đặc rồi thoáng rỗng/ Thấy thuyền bên khuất hẳn vào trong sóng/ Thấy chân trời lởm chởm răng cưa…”; hoặc rất dịu dàng, khi nghe hát dân ca trên biển đảo Quan Lạn: “Từ ngày xưa ai đã yêu ai thế/ Trong câu hát nhớ như giằng, như xé/ Ai chèo thuyền tìm ai uống nước mặn cầm hơi/ Anh nghe rồi thương không thể nào nguôi”… Những bài như vậy, dù có những cố gắng nhất định, tôi vẫn tự vứt bỏ khi đưa vào các tuyển tập, chỉ chọn có 1 bài in ở mục thơ tham khảo.

Riêng bài Chơi thuyền trên Vịnh Hạ Long thì khác hẳn. Tôi viết bài này trong đêm trước của Công cuộc đổi mới đất nước vĩ đại, 1985. Bài thơ như đã  vượt thoát ra khỏi chính bản thân tôi, ra khỏi thời gian và không gian cụ thể. Nó đã được lần lượt dịch ra 8 thứ tiếng ở nước ngoài và ở trong nước, đã in hơn 40 lần trong các tập tuyển và trên báo chí. Theo yêu cầu của Ban tổ chức, tôi cũng đã đọc bài thơ này và nhà thơ nữ Nguyễn Phan Quế Mai đọc bản dịch tiếng Anh, mở đầu Đêm thơ quốc tế tại Việt Nam ở đảo Tuần Châu năm 2010. Và hôm nay, lần đầu tiên tôi tiết lộ là: Khi viết bài này, tôi đã đặt bài thơ cùng tên của Quách Mạt Nhược ở trước mặt! Khác với tất cả các bài thơ khác đã viết về Vịnh Hạ Long, bài thơ này tôi viết bằng cảm quan vũ trụ và cái nhìn của hàng tỉ năm, từ khi Vịnh Hạ Long được tạo lập: “Giữa khoảng ngập ngừng của vũ trụ/ Ta cưỡi con thuyền đi rong chơi…”. Do đó mới coi trăng sao là giả dối tầm thường và cõi người là quẩn quanh nhợt nhạt… Do đó mới dửng dưng với sự đổ nát của các triều đại, còn cây cổ mới có mấy ngàn năm trên đá thì có bõ bèn gì… Phải viết đến mức ấy, mới đẩy Hạ Long lên ngang tầm vũ trụ, một kì quan vũ trụ (Phạm Sư Mạnh) như nó vốn có.

- Thường thì thơ viết về Hạ Long thiên về ca ngợi cảnh đẹp quyến rũ v.v.. Theo ông, như thế đã đủ chưa? Hạ Long còn tạo cho ông những cảm quan  nào khác không?

+ Dĩ nhiên là không đủ rồi. Những nhà thơ thông thường thì “tức cảnh sinh tình”, do đó thơ không thoát ra khỏi sự ngâm vịnh mà thực chất đã rất nhàm chán. Đã có hàng trăm bài viết theo lối này, dù là thơ viết theo các phong cách hiện đại hay viết theo luật Đường, đọc xong, không tiếp nhận được cái gì mới. Vấn đề là nhà thơ phải có một “lò cừ nung nấu sự đời” (Nguyễn Gia Thiều) gì đó, khi cảnh quan của Vịnh Hạ Long tác động vào tâm hồn anh, thì cái đó bay lên. Người đọc cần cái bay lên ấy, chứ không phải việc mô tả núi non biển đảo hay hình cái Lư Hương hoặc hòn Trống Mái v.v.. mà họ đã biết rồi. Hoặc nếu không biết thì chỉ đi vịnh một lần là biết. Nếu anh không có cái bay lên khỏi cảnh quan thì thơ anh sẽ không có mặt ở tương lai. Điều tinh vi này làm thơ khác với các loại hình nghệ thuật khác, nó gần với âm nhạc, với nhạc không lời... Đó chính là cái cảm quan sáng tạo mà tôi chỉ thấy ở những kiệt tác cỡ thế giới, như Vạn lí trường thành bên Trung Hoa…

-  Nói như vậy nghĩa là thơ về Vịnh Hạ Long thực sự là một gia tài văn hoá lớn. (Có lần ông cũng đã nói nó là một kho tàng văn hoá…). Nên hiểu ý ấy của ông như thế nào?

+ Vâng, đúng là một kho tàng thi ca hơn 750 năm với nhiều tên tuổi hàng đầu của các nền thi ca trong nước và thế giới. Khi làm Tuyển tập thơ Vịnh Hạ Long (đã tái bản 3 lần) tôi chia thơ về Vịnh Hạ Long ra làm 3 phần. Phần thơ cổ, phần thơ hiện đại và phần thơ nước ngoài. Về thơ cổ, có thơ từ thời Trần của Trần Thái Tông, Phạm Sư Mạnh, thơ thời Lê của thi hào Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Trịnh Cương, thơ thời Nguyễn có thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Cẩn… Thơ hiện đại có thơ của Sóng Hồng (Trường Chinh), Tố Hữu, Tế Hanh, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ khác. Trong đó hay nhất là thơ Xuân Diệu, Huy Cận và Chế Lan Viên. Có nhà thơ như Nguyễn Viết Lãm, tác giả Hạ Long, đêm bốc vác, đến nay vẫn là bài thơ hay nhất của cả đời thơ của nhà thơ. Vân Long có đến 2 bài thơ về Vịnh Hạ Long và đều có ý phát hiện rất sắc sảo. Hữu Thỉnh có bài Thơ viết ở biển, Xuân Quỳnh có bài thơ Sóng, cả hai bài đều nổi tiếng và càng nổi tiếng khi được phổ nhạc. Cả hai nhà thơ đều nói trực tiếp với tôi là viết về Vịnh Hạ Long trong thời gian nghỉ tại Bãi Cháy. Nhưng trong bài không có chữ nào gợi lên rõ là Hạ Long, nên khi làm tuyển, tôi không đưa vào tập, vì nghĩ: Chưa đủ sức thuyết phục được những bạn đọc kĩ tính. Về thơ nước ngoài, các nhà thơ Trung Quốc như thi hào hiện đại Quách Mạt Nhược và các nhà thơ Tiêu Tam, Viên Ưng, Quang Vị Nhiên, Trương Quýnh (Phó Chủ tịch thứ nhất Hội Nhà văn Trung Quốc)… (Tôi nhớ lần ấy, với tư cách là Phó Thường trực Ban công tác nhà văn các tỉnh thành phía Bắc, uỷ viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam, tôi được Hội Nhà văn Việt Nam uỷ nhiệm đưa nhà thơ Trương Quýnh và đoàn nhà văn Trung Quốc đi thăm Vịnh Hạ Long và bài thơ Hạ Long ông đã làm trước mặt tôi trên tàu du lịch dành riêng cho đoàn). Rồi còn thơ của các nhà thơ Nga như E. Đônmatốpxki (Giải thưởng Lênin) và các nhà thơ I. Kuprianốp, A.Gurơxanốp v.v.. hay các nhà thơ Pháp, Lào, Campuchia, Thái Lan, Tântâylan, Inđônêxia, Balan, Sec… Vịnh Hạ Long đã đăng cai Hội nghị quốc tế thơ về Việt Nam và gần đây là Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương… Nhiều bài thơ của các nhà thơ quốc tế mới này, tôi chưa sưu tầm được. Nhưng hay nhất vẫn là thơ của nhà thơ Pháp, Mireille Gansel, qua bản dịch của Xuân Diệu: “Bàn tay của thời gian thăm thẳm/ Bàn tay của gió nổi/ Bàn tay của triều sinh/ Bàn tay của muối ngấm… Một bàn tay không chút nhân tình/ Đã tạc nặn/ Cái nội tâm phong cảnh/ Đầy li kì và rất mộng mơ/ Của một mối tình hẹn ước/ Mà xưa nay chưa có bao giờ…”.

- Xin cảm ơn nhà thơ về cuộc trò chuyện này!

Hoàng Long (Thực hiện)

Cùng chuyên mục